Bài Thứ 6 - 1. Luật tông, 2. Tịnh Độ tông, 3. Thiền tông
Nội dung Bản đọc được trích dẫn nguyên văn từ sách. Các nội dung Video, Audio, Slide và ảnh minh họa được tạo bằng AI để hỗ trợ việc học.

A. MƯỜI TÔNG PHÁI PHẬT GIÁO Ở TRUNG HOA
Không phải riêng gì Đạo Phật, tất cả các tôn giáo lớn trên thế giới, theo với thời gian và sự phát triển, đều có chia ra nhiều tông phái. Sự phân phái ấy là một lẽ đương nhiên phải có để cho các căn cơ và hoàn cảnh khác nhau đều có thể thích hợp được. Nếu không, thì đạo không thể phát triển được về bề sâu cũng như bề rộng.
Hơn một tôn giáo nào cả, Đạo Phật không có những giáo điều thần khải, không có một tinh thần rắn chắc, gò bó trong những hình thức hẹp hòi, câu nệ, mà trái lại, rất phóng khoáng, tự do, dễ khoan hòa, dung hợp, nên Đạo Phật đi đến đâu cũng có thể phát triển đúng theo căn cơ và hoàn cảnh riêng biệt ở địa phương ấy. Do đó mà Đạo Phật có rất nhiều màu sắc riêng biệt khi lan tràn trên các nước.
Riêng ở Trung Hoa, Đạo Phật đã có chia mười tông phái. Trong mỗi tông phái đều có đặc điểm riêng, nhưng không bao giờ vượt ra ngoài giáo pháp của Phật cả. Những tông phái này cũng như những con đường khác nhau, có đường thẳng, đường cong, đường cao, đường thấp, đường rộng, đường hẹp, nhưng con đường nào cũng đưa đến một mục đích chung cả. Hành giả tùy theo trình độ, trí thức, khả năng và sở thích riêng mà lựa chọn con đường thích hợp với mình nhất để tu tập. Có như thế thì sự tu hành mới chóng có kết quả.
Mười tông phái ở Trung Hoa là:
Luật tông, Tịnh độ tông, Thiền tông, Pháp tướng tông, Mật tông, Thiên thai tông, Hoa nghiêm tông, Tam luận tông, Câu xá tông và Thành thật tông.
Trong 10 tông này, Câu xá tông và Thành thật tông chủ trương về Tiểu Thừa; Luật tông và Thiền tông thông cả Đại và Tiểu Thừa, còn 6 tông kia thuộc về Đại Thừa.
Nghĩa lý của các tông rất mầu nhiệm, kinh điển cũng rất nhiều, muốn hiểu cho thấu đáo cần phải chuyên môn nghiên cứu và công phu trong nhiều năm. Trong phạm vi của khóa Phật học phổ thông này, chúng ta không thể đi sâu vào mỗi tông được. Ở đây, chúng ta chỉ nên biết qua đại khái về giáo lý và làm quen với danh từ các tông ấy, để có chỗ nhập môn mà thôi. Sau này, khi học cao hơn, chúng ta sẽ đi sâu vào từng tông phái một và sẽ tùy theo căn cơ, sở thích của mình mà lựa một trong những tông ấy để tu hành.
B. LUẬT TÔNG
I. DUYÊN KHỞI LẬP TÔNG
Tông này dùng luật làm chỗ căn cứ nên gọi là Luật tông. Đức Phật khi còn tại thế, tùy căn cơ, tùy hoàn cảnh mà chế ra nhiều loại giới luật để răn dạy đệ tử, hóa độ chúng sinh. Sau khi Ngài nhập Niết bàn, các đệ tử của Ngài, như Ngài Ưu-Ba-Ly là vị tinh thông về giới luật, đứng trên pháp tọa trong kỳ kết tập kinh điển lần thứ nhất, đã tụng đọc lại những giới luật mà Đức Phật đã chế ra. Lần kết tập này chưa biên chép thành kinh điển, nên Ngài Ưu-Ba-Ly phải đọc đi đọc lại đến 80 lần, đến nỗi mỗi người trong hội đều thuộc lòng. Do đó mới có tên là “Bát thập tụng luật”.
Về sau, tuần tự theo thời gian, nguyên thủy Phật giáo lần hồi chia ra làm nhiều nhánh hay bộ phái. Mỗi bộ phái đều theo một bộ luật riêng. Trong số các bộ luật này, những bộ được nói đến và áp dụng nhiều nhất là: Thập tụng, Tứ phần, Tăng kỳ và Ngũ phần.
Những bộ luật này được truyền sang Trung Hoa và được phiên dịch ra Hán văn. Đến đời Đường, ngài Trí Thủ Luật sư chú giải các bộ ấy; và đệ tử của ngài là Đạo Tuyên Luật sư nhận thấy trong các bộ ấy, bộ luật Tứ phần là thích hợp với căn cơ người Trung Hoa, nên đã căn cứ vào luật này để lập ra Luật tông. Ngài Đạo Tuyên là người ở Chung Nam Sơn, nên người đời gọi tông này là “Chung Nam Sơn” để phân biệt với các Luật tông khác như của các ngài Pháp Lệ bên phái Hữu tướng bộ hay ngài Hoài Tố ở Đông Tháp.
Trong các Luật tông này, chỉ có Luật tông của ngài Chung Nam Sơn là thịnh hành hơn hết và được truyền bá cho đến bây giờ, vì nó trung hòa cả Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa.
II. TÔNG CHỈ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA LUẬT TÔNG
Phàm một tổ chức hay một công việc gì đúng đắn cũng đều phải tuân theo những quy luật nhất định. Hơn tất cả, sự tu hành lại càng phải tuân theo những giới luật nghiêm minh. Như chúng ta đã biết trong phần giáo lý căn bản, nghiệp là động lực chính của vũ trụ nhân sinh. Nghiệp định đoạt tất cả đời sống chúng ta. Nghiệp có ba loại: nghiệp của hành động, nghiệp của lời nói và nghiệp của ý nghĩ. Nếu những nghiệp ấy được thanh tịnh, không tạo ra các điều ác, thì ta không thọ quả báo sinh tử luân hồi. Không có quả báo sinh tử luân hồi thì tất nhiên là được giải thoát.
Muốn các nghiệp được thanh tịnh thì ta phải giữ gìn giới luật. Đây chính là một phương pháp tu hành rất thiết thực và rất hiệu nghiệm đối với Phật tử chúng ta:
- Giữ giới không sát nhân hại vật thì hiện tại không làm người hung dữ, khỏi bị tù tội; về sau khỏi bị đọa trong ba đường dữ và khỏi bị người giết hại.
- Giữ giới không trộm cướp thì hiện thời làm người lương thiện, khỏi bị giam cầm xiềng xích; đời sau không mắc quả báo bị người giật của cướp nhà.
- Giữ giới không tà dâm thì hiện thời thành người tốt, gia đình mình và người không bị rầy rà, đánh đập, khổ sở vì ghen tuông.
- Giữ giới không nói dối, không nói láo xược, thêu dệt, thêm bớt, đâm thọc, không nói hung ác và thô tục thì không bị người khinh khi, lại được sự kính trọng.
- Giữ giới không cờ bạc, hút xách, rượu chè thì khỏi mất tiền, thiếu nợ, khỏi say sưa làm điều tội lỗi và khỏi bị người khinh bỉ, trí tuệ tăng trưởng.
Nói một cách tổng quát, giữ một giới là ngăn ngừa được một điều tội lỗi và thêm được một điều lành; giữ nhiều giới là ngăn ngừa được nhiều điều tội lỗi và thêm được nhiều điều lành. Bởi thế nên giữ giới luật là phương pháp tu không xa thực tế và rất cần thiết cho các Phật tử cầu đạo giải thoát.
Nhờ giữ “giới luật”, không làm các việc tội lỗi, nên tâm được “định”; do tâm định nên phát ra “trí huệ sáng suốt”. Nhờ có trí huệ sáng suốt nên phá trừ được vô minh si ám, và được minh tâm kiến tánh thành Phật.
Người tu tại gia có giữ giới mới thành Phật tử chân chính. Người xuất gia thọ Sa-di, có giữ giới mới phải là chân tu. Thầy Tỳ-kheo có giữ giới mới phải là Tỳ-kheo thanh tịnh. Bồ Tát có giữ giới mới phải là chân Bồ Tát. Bởi thế nên trong ba món vô lậu học là giới, định, huệ thì “giới” đứng đầu tất cả.
Tông này sở dĩ lập ra là nhằm vào lợi ích thiết thực và chín chắn của giới luật như đã trình bày ở trên.
III. CÁC LOẠI GIỚI LUẬT
Giới luật có nhiều loại từng bậc, tùy theo căn cơ, tùy theo giới tu sĩ và tùy theo sự phát nguyện của người tu hành mà áp dụng. Nhưng nói một cách tổng quát thì giới luật có thể phân chia làm hai loại lớn là: giới luật của Đại Thừa và giới luật của Tiểu Thừa.
Những giới luật nào có tính cách tiêu cực, tự lợi, chỉ có mục đích chính là tránh tội lỗi cho riêng mình thì thuộc về giới Tiểu Thừa. Những giới như: Ngũ giới, Bát quan trai giới, Sa-di giới, Sa-di-ni giới, Thức-xoa-ma-na, Tỳ-kheo giới và Tỳ-kheo-ni giới là những giới thuộc về phái Tiểu Thừa.
Những giới luật nào có tính cách tích cực, nhắm vào mục đích lợi tha hơn tự lợi thì thuộc về Đại Thừa giới. Những giới thuộc về Đại Thừa như 10 giới trọng, 48 giới khinh của Bồ Tát, hay Tam tụ tịnh giới gồm: Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới và Nhiêu ích hữu tình giới.
Nếu đứng về phương diện hành trì mà phân loại, giới luật có thể chia làm hai phần lớn: một phần thuộc về chỉ trì, nghĩa là ngăn dứt ác nghiệp; một phần thuộc về tác trì, tức hành động theo thiện nghiệp.
Về chỉ trì, có hai bộ giới bổn quan trọng:
Tỳ-kheo giới bổn gồm 250 giới, chia làm 8 loại: Ba-la-di, Tăng-tàn, Bất-định, Xả-đọa, Đơn-đọa, Đề-xá-ni, Chúng-học và Diệt-tránh.
Tỳ-kheo-ni giới bổn gồm 348 giới, chia làm 7 loại: Ba-la-di, Tăng-tàn, Xả-đọa, Đơn-đọa, Đề-xá-ni, Chúng-học và Diệt-tránh.
Giới Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni trên đây gọi là Cụ túc giới, nghĩa là những giới đem lại cho người thọ vô lượng giới hạnh, phước đức. Nhưng 250 hay 348 giới chưa phải là nhiều. Đó chỉ là những giới tóm thâu các giới luật chính làm giềng mối cho sự trì phạm mà thôi. Nếu kể cho hết giới luật thì về lượng sánh đồng hư không, về cảnh lại lan khắp cả pháp giới.
Vì sao Phật lập ra nhiều giới luật như thế? Vì mỗi một giới là ngăn ngừa một tội lỗi, mà con người chúng ta là phàm phu, từ tâm niệm cho đến hành vi có không biết bao nhiêu điều tội lỗi, nên phải có vô số giới luật để ngăn ngừa.
Về tác trì thì gồm có 20 kiền độ. Kiền độ nghĩa là phẩm loại, điều luật. Trong đó có các nội dung như: Thọ giới kiền độ, Thuyết giới kiền độ, An cư kiền độ, Tự tứ kiền độ v.v... Sự chia ra chỉ trì và tác trì là cốt để dễ phân biệt trong khi giữ giới; chứ thật ra nói một cách rốt ráo thì trong “chỉ” có “tác”, trong “tác” có “chỉ”, không thể nói một cách dứt khoát được.
IV. CÁC DANH TỪ VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HÀNH
Giới luật của Phật chế ra rất nhiều; do đó danh từ chuyên môn và cách thức giữ giới cũng rất phức tạp. Muốn giữ giới được kết quả, trước tiên phải hiểu những điểm cốt lõi sau đây.
1. Danh, chủng, tánh, tướng
- Danh là tên gọi của mỗi giới, như giới bất sát sinh, giới bất thâu đạo.
- Chủng là chủng loại hay nhóm, như Ba-la-di, Tăng-tàn v.v...
- Tánh là tâm tánh bên trong; người giữ giới trong tâm không nghĩ đến việc sát, đạo, dâm, vọng, hay thấy người phạm giới cũng không sanh tâm vui mừng.
- Tướng là hình tướng bên ngoài; bên trong không nghĩ đến điều ác và bên ngoài cũng không làm điều ác ấy.
Tóm lại, mỗi khi phạm một điều tội lỗi, người giữ giới phải biết tội ấy là gì, thuộc loại nào, thuộc nội tâm hay ngoài thân, và cuối cùng phải biết theo luật trị phạt thế nào mới được thanh tịnh.
2. Khai, giá, trì, phạm
- Khai là mở, cho làm.
- Giá là cấm, không cho làm.
- Trì là giữ gìn giới luật cho được thanh tịnh.
- Phạm là vi phạm giới luật đã thọ nhận.
Ví dụ, khi Phật còn tại thế, Ngài cấm các vị Tỳ-kheo leo lên cây, đó là “Giá”. Nhưng về sau có vị Tỳ-kheo bị ác thú đuổi, Phật dạy nếu có duyên sự thì được leo cây, đó là “Khai”. Cũng vậy, người Phật tử phải giữ giới không uống rượu là “Giá”; nhưng khi bệnh nặng, nếu cần rượu hòa thuốc để cứu mạng thì có thể tạm dùng, đó là “Khai”.
Trong khi tu hành giữ giới luật, hành giả luôn luôn phải quan sát mỗi hành vi hằng ngày của mình, xét cho sáng suốt thế nào là trì, thế nào là phạm; trong trường hợp nào và giới nào được khai, trong trường hợp nào và giới nào không được khai.
3. Chỉ trì, tác phạm, tác trì, chỉ phạm
- Chỉ trì là đối với điều ác, quyết giữ gìn không gây tội lỗi.
- Tác phạm là đối với điều ác, đáng lẽ phải giữ mà lại không giữ được nên phạm.
- Tác trì là đối với điều thiện, cần phải làm; làm được là trì giới.
- Chỉ phạm là đối với điều thiện, nếu đình chỉ không làm thì phạm giới.
Thí dụ: về tội ăn trộm, nếu không làm là chỉ trì, nếu làm là tác phạm. Trái lại, về hạnh bố thí, nếu làm là tác trì, nếu không làm là chỉ phạm.
4. Tánh tội và giá tội; tánh giới và giá giới
Tánh tội là tội sẵn có trong bản tánh chúng sanh, như sát, đạo, dâm, vọng. Giá tội là tội không sẵn có trong bản tánh nhưng do hoàn cảnh, do tập nhiễm mà phát sinh, như uống rượu.
Tánh giới là giới ngăn ngừa bốn tánh tội nói trên. Giá giới là giới ngăn ngừa tội lỗi do hoàn cảnh và huân tập mà phát sinh. Những giới này tuy ít quan trọng hơn tánh giới, nhưng muốn giữ được tánh giới một cách ít khó khăn, phải cần giữ giá giới.
V. KẾT LUẬN
Mục đích của giáo pháp mà Đức Phật chỉ bày cho chúng ta là minh tâm, kiến tánh và thành Phật. Tất cả các tông phái, mặc dù có chủ trương và đặc điểm khác nhau, nhưng mục đích cuối cùng đều là một: giác ngộ và thành Phật.
Luật tông cũng không đi ra ngoài mục đích trên, mặc dù phương pháp có khác. Phần nhiều các tông khác thì phải hiểu rồi mới tu; Luật tông trái lại chủ trương: hãy tu đi rồi sẽ hiểu; hãy giữ gìn giới luật cho nghiêm chỉnh, thì tâm sẽ định tĩnh, thanh tịnh; tâm đã thanh tịnh thì trí huệ sẽ sáng suốt, chân tâm sẽ hiện bày, Phật tánh sẽ phát lộ.
Đó là một chủ trương rất thiết thực mà kết quả lại chắc chắn. Những kẻ học rộng biết nhiều mà không giữ giới cũng chẳng khác gì ngọn đèn trước gió, có thể sáng lắm nhưng không biết sẽ tắt khi nào. Trái lại, người học ít biết hẹp mà giữ giới một cách chân thành thì cũng như ngọn đèn có ống khói: khi mới thắp thì lâu, nhưng không tắt thì càng cháy lâu càng sáng tỏ.
Vì những lý lẽ trình bày ở trên, Luật tông đều thích hợp với mọi căn cơ, nhất là với những căn cơ chậm lụt. Tấm gương Ngài Ưu-Ba-Ly là minh chứng hùng hồn cho sức mạnh của giới luật: địa vị xã hội thấp kém, căn trí bình thường, nhưng nhờ nghiêm trì giới luật mà trở thành bậc hiền thánh.
C. TỊNH ĐỘ TÔNG
Tông này thuộc về Đại Thừa, chủ trương dạy người chuyên tâm niệm Phật để được vãng sanh về Tịnh độ của Đức Phật A-Di-Đà. Do đó, tông này mới có tên là Tịnh độ tông. Đây là một trong nhiều pháp môn của Phật, mà đặc điểm là dễ tu, dễ chứng, rất thích hợp với đại đa số quần chúng.
Với pháp môn này, bất luận hạng người nào, trong thời gian nào, hoàn cảnh nào, cũng có thể tu hành được cả. Nếu so sánh với con đường đi, thì tông này là một đại lộ bằng phẳng, rộng rãi, mát mẻ, hành giả dễ đi mà mau đến, không sợ gặp nguy hiểm chướng ngại giữa đường.
Bởi những lẽ ấy, nên từ xưa đến nay đã có không biết bao nhiêu người chọn lựa pháp môn này để tu hành. Riêng ở Việt Nam chúng ta, ngày xưa cũng như hiện nay, có biết bao nhiêu người là môn đồ của tông này. Đó là lý do khiến pháp môn này trở thành “con đường tu thứ hai” rất quan trọng trong mười tông phái của Phật giáo.
I. DUYÊN KHỞI LẬP TÔNG
Tịnh độ căn cứ vào những kinh điển gì để thành lập? Kinh điển mà Tịnh độ tông y cứ rất nhiều; ở đây chỉ xin nêu một số bộ kinh căn bản thường được nói đến:
- Kinh Vô Lượng Thọ: chép lại 48 lời thề nguyện của Đức A-Di-Đà khi còn là vị Tỳ-kheo tên Pháp Tạng.
- Kinh Quán Vô Lượng Thọ: chép rõ 16 pháp quán và 9 phẩm để dạy người cầu được vãng sanh về cõi Tịnh độ.
- Kinh Tiểu Bổn A-Di-Đà: lược tả thế giới Cực Lạc trang nghiêm để khiến người phát lòng ham mộ và tu theo pháp môn trì danh niệm Phật.
Ba kinh trên thường được cổ nhân gọi là “Ba kinh Tịnh độ”. Ngoài ra còn có các kinh khác như: Kinh Bửu Tích, Kinh Đại Bổn A-Di-Đà, Kinh Ban Châu Niệm Phật, Kinh Bi Hoa, Kinh Phương Đẳng, Kinh Hoa Nghiêm v.v...
Giáo điển về Tịnh độ truyền qua Trung Hoa rất sớm, nhưng đến đời Đông Tấn, nhờ ngài Huệ Viễn Đại sư ra công hoằng hóa nên tông này mới bắt đầu thịnh hành. Ngài là vị Tổ đầu tiên ở Trung Hoa. Sau đó, các vị đạo sư danh tiếng như ngài Đàm Loan, ngài Đạo Xước, ngài Thiện Đạo v.v... đều dùng pháp môn này mà tu chứng, hóa độ rất nhiều người và mãi lưu truyền cho đến ngày nay.
II. BỐN CÕI TỊNH ĐỘ
Tịnh độ không phải chỉ có một cõi, mà có rất nhiều cõi. Đứng về phương diện phân tích, từ tế đến thô, có thể chia làm bốn cõi Tịnh độ sau đây:
1. Thường Tịch Quang Tịnh độ
Đây là cảnh giới mà Pháp thân Phật an trụ. “Thường” là không thay đổi, không sanh diệt; “Tịch” là xa lìa các phiền não vọng nhiễm; “Quang” là chiếu sáng khắp cả mười phương. Cõi này không có hình sắc mà chỉ là chân tâm, vì bản thể chân tâm hay tánh viên giác luôn vắng lặng, chiếu soi và thanh tịnh.
2. Thật Báo Trang Nghiêm Tịnh độ
Hành giả trải qua ba a-tăng-tỳ kiếp tích công lũy đức, do phước báu tu hành nhiều đời dồn chứa lại làm trang nghiêm cảnh giới chân thật nên gọi là Thật Báo Trang Nghiêm Tịnh độ. Cảnh giới này là chỗ ở của Báo thân Phật.
3. Phương Tiện Hữu Dư Tịnh độ
Đây là cõi Tịnh độ của hàng Nhị thừa. Các vị này tuy đã dứt được kiến hoặc và tư hoặc trong ba cõi, nhưng còn dư lại vô minh hoặc và trần sa hoặc chưa trừ được, nên gọi là “hữu dư”. Đã là hữu dư tức là chưa phải hoàn toàn cứu cánh, nên cõi này mang tên Phương Tiện Hữu Dư Tịnh độ.
4. Phàm Thánh Đồng Cư Tịnh độ
Đây tức là cõi Tịnh độ của Đức Phật A-Di-Đà ở Tây phương. Tuy là cõi Cực Lạc thanh tịnh trang nghiêm, không có bốn ác thú, nhưng vì Phật, Bồ Tát và các vị thượng thiện nhân cùng sống chung với chúng sanh mới vãng sanh, chưa chứng quả Thánh, nên gọi là “Phàm Thánh Đồng Cư Tịnh độ”.
Vì phần đông tín đồ Phật giáo Việt Nam và Trung Hoa trong khi tu pháp môn Tịnh độ đều nguyện sanh về cõi này, nên chúng ta thường căn cứ theo kinh Tiểu Bổn A-Di-Đà để hiểu cảnh giới Tây phương Cực Lạc: có bảy lớp tường hoa, bảy lớp lưới giăng, bảy hàng cây xinh đẹp; có hồ thất bảo đầy nước tám công đức; đáy hồ toàn là cát vàng; trong hồ có hoa sen bốn màu lớn bằng bánh xe, hương thơm ngào ngạt, mỗi màu đều có hào quang chiếu sáng. Tiếng chim báu, tiếng nước chảy, tiếng gió thổi, tiếng cây reo đều phát ra tiếng pháp nhiệm mầu khiến người nghe phát tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
III. BA YẾU TỐ ĐỂ CẦU SANH TỊNH ĐỘ
Muốn được vãng sanh về cõi Tịnh độ nói trên, hành giả phải chuẩn bị ba yếu tố sau đây là: Tín, Nguyện và Hành. Ba yếu tố này thường được gọi là ba món tư lương. Nếu thiếu một món nào thì hành giả cũng không thể tu hành có kết quả được.
1. Tín
Tín là đức tin vững chắc, không gì lay chuyển được. Đức tin rất quan trọng và cần thiết cho người tu hành. Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Tin là mẹ sanh ra các công đức”. Tin có ba phần:
- Tin Phật: Tin rằng lời dạy của Đức Phật Thích Ca không hư dối, Đức Phật A-Di-Đà và cảnh Tịnh độ đều có thật.
- Tin Pháp: Tin rằng pháp môn niệm Phật là pháp môn dễ tu, dễ chứng, có bảo đảm chắc chắn.
- Tin mình: Tin rằng mình có đầy đủ khả năng và nghị lực để tu theo pháp môn này, chuyên trì danh hiệu Phật A-Di-Đà cho đến nhất tâm bất loạn thì khi lâm chung chắc chắn sẽ được sanh về cõi Tịnh độ.
2. Nguyện
Nguyện là lời hứa hẹn, sự ước ao, là chí nguyện mong muốn thực hiện những điều chân chính. Nguyện là động cơ thúc đẩy cho con người tu hành mau đến mục đích. Vì vậy, hành giả phải lập nguyện cho vững bền, luôn luôn kiên tâm trì chí tu theo pháp môn niệm Phật, ngày đêm chuyên niệm Phật không ngớt, thiết tha mong cầu được sanh về cõi Tịnh độ của Phật A-Di-Đà.
Để hiểu rõ sức mạnh của nguyện, có thể nhớ ba lời trong 48 đại nguyện của Đức Phật A-Di-Đà khi còn là Pháp Tạng Tỳ-kheo: chúng sanh chí tâm tin ưa, muốn về cõi Ta, từ một niệm cho đến mười niệm mà không được vãng sanh thì Ta thề không thành Chánh Giác; chúng sanh phát tâm Bồ-đề, tu các công đức, một lòng phát nguyện muốn sanh về cõi nước Ta mà Ta không hiện ra tiếp dẫn thì Ta thề không thành Chánh Giác; chúng sanh nghe danh hiệu Ta, chuyên niệm cõi nước Ta mà nếu không được thỏa nguyện thì Ta thề không thành Chánh Giác.
3. Hành
Hành là thực hành, làm theo. Nếu tin mà không ước ao, mong muốn thì chỉ là tin suông. Nếu ước ao, mong muốn mà không làm thì chỉ là ước muốn ảo huyền. Bởi thế, Tín, Nguyện, Hành bao giờ cũng phải có đủ, cũng như cái đảnh phải có đủ ba chân mới đứng vững được.
IV. PHƯƠNG PHÁP TU VỀ TỊNH ĐỘ
Sau khi đã chuẩn bị đủ ba món tư lương Tịnh độ, chúng ta phải hạ thủ công phu ngay. Vẫn biết rằng pháp môn niệm Phật là một pháp môn rất giản dị, chỉ cần niệm Phật là đủ; nhưng niệm Phật cũng có nhiều cách. Dưới đây là năm phương pháp thường được nói đến:
1. Trì danh niệm Phật
Hành giả chỉ chuyên tâm trì niệm danh hiệu của Phật A-Di-Đà. Mỗi ngày từ khi mới thức dậy cho đến lúc đi ngủ, hành giả phải nhớ niệm luôn, không cho xen hở. Khi đi, khi đứng, khi nằm, khi ngồi, khi ăn, trước khi ngủ, hành giả đừng bao giờ quên niệm Phật. Mỗi khi niệm xong, hành giả đều hồi hướng cầu sanh Tịnh độ.
2. Tham cứu niệm Phật
Trong lối tu này, hành giả phải tham khảo cứu xét suy nghiệm câu niệm Phật. Như khi niệm “Nam-mô A-Di-Đà Phật”, hành giả phải quán sát câu niệm Phật này từ đâu mà đến, đến rồi sẽ đi về đâu, niệm đây là niệm ai v.v... Nhờ sự chuyên tâm tham cứu như thế, sóng vọng tưởng dần dần chìm lặng, nước tâm hiện bày, hành giả được nhất tâm bất loạn.
3. Quán tượng niệm Phật
Hành giả ngồi trước tượng Phật, chú tâm chiêm ngưỡng, quan sát các tướng tốt mà liên tưởng các đức tánh của Phật. Khi chiêm ngưỡng đôi mắt Phật thì liên tưởng tới trí huệ của Phật; khi chiêm ngưỡng nụ cười hiền hòa của Phật thì liên tưởng đến đức tánh từ bi, hỷ xả của Phật. Nhờ vậy, các tánh xấu của hành giả dần được chuyển hóa.
4. Quán tưởng niệm Phật
Hành giả ngồi yên một chỗ, tuy không có hình tượng Phật trước mặt nhưng quán tưởng như có Đức Phật A-Di-Đà cao lớn đứng trên hoa sen, phóng tỏa hào quang như tấm lụa vàng bao phủ cả thân hình mình. Hành giả cũng tưởng mình ngồi trên tòa sen, được Phật tiếp dẫn. Chuyên chú quán tưởng như thế cho đến khi mở mắt hay nhắm mắt đều thấy Phật.
5. Thật tướng niệm Phật
Thật tướng niệm Phật là niệm Phật đã đạt đến bản thể chân tâm. Chân tâm không sanh diệt, không khứ lai, không hư giả, cho nên gọi là thật tướng. Trong năm pháp niệm Phật thì bốn pháp trước thuộc về Sự, còn pháp này thuộc về Lý: không còn năng sở, cao siêu hơn cả. Nhưng hành giả phải luôn luôn nhớ rằng nhờ có Sự, Lý mới hiển; trước hết phải tu bốn pháp niệm trên cho đến khi thuần thục, không còn thấy có mình là người niệm, Phật là vị bị niệm, chỉ có một tâm yên lặng chiếu soi, không năng sở, bỉ thử, không hữu, không vô.
Trong năm pháp niệm Phật trên đây, từ xưa đến nay, người tu Tịnh độ thường lựa pháp môn trì danh là một pháp môn dễ hạ thủ công phu, hành giả ở trình độ nào, nơi nào hay lúc nào cũng đều có thể tu được. Đó là một pháp môn rất thù thắng.
V. LỢI ÍCH CỦA PHÁP NIỆM PHẬT
Lợi ích của pháp niệm Phật thật vô lượng vô biên, tựu trung có thể chia làm hai phần: lợi ích về Sự và lợi ích về Lý.
1. Lợi ích về Sự
- Niệm Phật sẽ trừ được các phiền não, đổi dòng tâm từ khổ đau sang nhớ nghĩ Phật.
- Niệm Phật sẽ trừ được niệm chúng sanh, vì không còn thì giờ để nhớ nghĩ đến tham, sân, si và tạo ác nghiệp.
- Niệm Phật làm cho thân thể được nhẹ nhàng an ổn; những người uất hận, mất ngủ, yếu tim nếu biết niệm Phật thì tâm định, thân cũng dần bình phục.
- Niệm Phật giúp tâm trí sáng suốt, học hành mau nhớ; tâm định như ngọn đèn có ống khói, không bị lay động.
- Lợi ích lớn nhất là khi lâm chung sẽ được sanh về Tịnh độ nếu hành trì đúng như lời Phật dạy cho đến nhất tâm bất loạn.
2. Lợi ích về Lý
Khi hành giả niệm Phật được nhất tâm bất loạn, thì các vọng tưởng hết, chân tâm thanh tịnh hiện ra. Chân tâm không sanh diệt là Thường, chân tâm vắng lặng là Tịch, chân tâm sáng suốt vô cùng là Quang. Cảnh Thường Tịch Quang Tịnh độ chỉ ở nơi chân tâm ta, chứ không ở đâu khác.
Cho nên người niệm Phật đến khi hết vọng, ngộ nhập được chân tâm rồi, thì Phật A-Di-Đà hay cảnh Tịnh độ cũng chỉ ở nơi tâm mình hiện ra. Vì thế kinh mới chép: “Tự tánh Di-Đà, duy tâm Tịnh độ”.
VI. SỰ QUY NGƯỠNG VÀ CẦU SANH VỀ TỊNH ĐỘ CỦA CÁC VỊ BỒ TÁT VÀ TỔ SƯ
Chúng ta đừng tưởng rằng pháp môn Tịnh độ là một pháp môn tầm thường, giản dị chỉ dành riêng cho những người căn trí thấp kém. Thật ra, mặc dù pháp môn này không đòi hỏi hành giả có một sức hiểu biết thâm sâu hay một trí óc thông minh xuất chúng, nhưng vì nó dễ tu dễ chứng, hiệu quả chắc chắn nên từ xưa đến nay rất nhiều vị Bồ Tát và Tổ sư đã thực hành pháp môn này để cầu sanh về Tịnh độ.
Ngài Văn Thù là vị Bồ Tát có trí tuệ tối thắng, thế mà Ngài cũng phát nguyện sanh về nước Cực Lạc của Phật A-Di-Đà. Các vị Bồ Tát như Ngài Phổ Hiền, Quán Âm, Đại Thế Chí cũng đều nguyện sanh về cõi Tịnh độ. Các vị Tổ ở các tông khác như Thiên Thân, Trí Giả, Hiền Thủ, Nguyên Chiếu, Mã Minh, Long Thọ v.v... cũng đều thực hành pháp môn Tịnh độ.
Sau nữa, các vị Đại sư danh tiếng ở Trung Hoa như Đàm Loan, Đạo Xước, Thiện Đạo, Thừa Viễn, Pháp Chiếu, Thiếu Khương, Tỉnh Am v.v... đều dùng pháp môn này để tự độ và độ tha, và lưu truyền cho đến ngày nay.
VII. KẾT LUẬN
Chúng ta đã biết qua tông chỉ, đặc điểm, phương pháp tu hành và giá trị của Tịnh độ tông. Đến đây, điều quan trọng là tự xét xem phương pháp tu này có thiết thực, lợi ích và có thích hợp với chúng ta không. Nếu nhận thấy nó không phù hợp, ta có thể chờ lựa chọn một phương pháp khác; nhưng nếu nhận thấy nó có giá trị thiết thực và lợi ích chắc chắn cho đời sống hiện tại và mai sau, thì không nên chần chừ nữa mà phải hạ thủ công phu ngay.
Thời gian vùn vụt trôi qua, chẳng chờ ai cả. Hãy chuẩn bị ngay ba món tư lương là Tín, Nguyện, Hành và tinh tấn thực hành các phương pháp niệm Phật. Với một thái độ thiết tha chân thành và một quyết tâm không thối chuyển, chúng ta chắc chắn sẽ niệm Phật đến chỗ nhất tâm bất loạn.
D. THIỀN TÔNG
A. PHẦN MỞ ĐẦU
Thiền tông thuộc cả Đại Thừa và Tiểu Thừa. Cũng như bao nhiêu tông phái khác trong Phật giáo, vị khai sáng đầu tiên của Thiền tông vẫn là Đức Phật. Trước Ngài, sự tham thiền nhập định của các ngoại đạo không phải là không có. Nhưng đến Ngài, phương pháp thiền định mới đạt đến chỗ rốt ráo.
Như chúng ta đều biết qua lịch sử của Ngài, sau khi xuất gia, Đức Phật đã trải qua nhiều năm đi tìm đạo và tu khổ hạnh, nhưng vẫn chưa đạt được đạo quả như ý muốn. Ngài tự bảo cái đạo ấy không phải đi tìm đâu xa mà chính phải tìm trong trí huệ sáng suốt của Ngài. Và từ đó, luôn trong 49 ngày đêm dưới cội Bồ-đề, Ngài đã ngồi tham thiền nhập định cho đến khuya mùng 8 tháng Chạp âm lịch, lúc sao Mai vừa mọc thì Ngài minh tâm kiến tánh, chứng được đạo quả Bồ-đề. Đó là cuộc nhập định vô tiền khoáng hậu, mở đầu cho một pháp môn vô cùng hiệu nghiệm của đạo Bồ-đề.
Thiền tông là một tông phái của Phật giáo lấy pháp môn tham thiền nhập định làm căn bản tu hành. Chữ “Thiền” do chữ “Thiền-na” (Dhyāna) phiên âm ra, nghĩa là tịnh lự, tức lắng sạch các tư lự. Chữ “Định” nguyên tiếng Phạn là Samādhi, người Trung Hoa phiên âm là Tam-muội, nghĩa là tập trung tư tưởng vào một cảnh duy nhất không cho tán loạn.
Hợp hai chữ Thiền và Định, chúng ta có một nghĩa chung: tập trung tư tưởng vào một đối tượng duy nhất, không cho tán loạn, để cho tâm thể được vắng lặng, tâm dụng được sáng tỏ, mạnh mẽ, hầu quan sát và suy nghiệm chân lý.
Phương pháp thiền định có hai mặt lớn: tham cứu về lý thiền để cầu minh tâm kiến tánh, và tập trung tư tưởng để quan sát sáng tỏ một chân lý hay vấn đề nào đó như quán bất tịnh, quán từ bi. Có chỗ gọi là tu chỉ quán hay tu định huệ: chỉ là đình chỉ các vọng tưởng, quán là quan sát cho sáng tỏ.
B. CHỦ TRƯƠNG CỦA THIỀN TÔNG
Tất cả chúng sinh, trải qua bao đời kiếp phải trôi lăn trong biển khổ sanh tử luân hồi vì bị vô minh mê hoặc. Chúng ta hằng ngày bị thất tình, lục dục, bát phong xuy động, làm cho tâm tánh mờ ám; cũng như ngọn đèn bị thổi leo lét, không sáng tỏ được để phá tan cái hắc ám ở chung quanh. Đèn tâm của chúng ta không giờ phút nào chẳng bị gió lục trần làm chao động.
Vì đèn tâm chao động nên ánh sáng trí huệ không thể tỏa ra; và ánh sáng trí huệ không tỏ sáng nên không xé tan được mây vô minh hắc ám ở chung quanh và không chiếu soi chân lý của vũ trụ. Vậy hành giả muốn rõ chân lý của vũ trụ, muốn được minh tâm kiến tánh thành Phật, thì phải phá trừ mây vô minh ấy. Muốn phá trừ vô minh hắc ám, hành giả phải làm sao cho đèn trí huệ của mình được sáng tỏ. Muốn thế, hành giả phải tu thiền định. Tâm có định mới phát sinh trí huệ; trí huệ phát sinh mới phá trừ được vô minh.
Mới nghe qua chủ trương của Thiền tông, chúng ta thấy không có gì mới lạ và tưởng là dễ dàng quá; nhưng khi thực hành thì không phải thế. Phép tu thiền định rất khó, phải thường có thiện hữu tri thức dắt dẫn, phải tốn rất nhiều công phu và kiên nhẫn, phải trải qua một thời gian lâu dài mới thu được kết quả.
I. NGOẠI ĐẠO THIỀN
Thiền định có nhiều loại, trong đó có những loại không chơn chánh vì không nhằm mục đích trau dồi tâm tánh, dẹp trừ phiền não hữu lậu để cầu giải thoát sanh tử luân hồi. Theo quan niệm Phật giáo, những người tu theo lối thiền định này chỉ nhắm đến việc cầu sống lâu, cầu khỏe mạnh, cầu thần thông biến hóa, cầu phép lạ để mê hoặc người, hay cầu tiên cảnh để hưởng lạc thú tiêu dao.
Bởi họ dụng tâm không chơn chánh, tu phương pháp không chơn tánh, nhắm mục đích thiển cận bên ngoài và bị tham, sân, si thúc đẩy, nên các loại thiền ấy không rốt ráo và toàn thiện được. Các hình thức tiêu biểu gồm có tà thiền định, thiền định của đạo Tiên, luyện Du-già và luyện thôi miên.
1. Tà thiền định
Tà thiền định là những hình thức tập trung tư tưởng, luyện định mà động cơ bị chi phối bởi tâm tà, như ham phép lạ, ham điều khiển quỷ thần, ham mê hoặc người khác hay phục vụ lòng dâm, sát, đạo. Phật dạy ngài A-Nan trong kinh Lăng Nghiêm rằng: tu thiền mà không đoạn dâm thì đọa ma đạo; không đoạn tâm sát thì đọa thần đạo; không đoạn trộm cướp thì đọa tà đạo.
2. Thiền định của đạo Tiên
Theo đạo Tiên, con người sở dĩ sống được là nhờ tinh, khí, thần. Người tu tiên cốt luyện cho khí âm mất đi, chỉ còn cái khí thuần dương đi lên đỉnh đầu để có thần thông và đắc đạo. Họ dùng các phép luyện khí, tọa công, dưỡng tinh, luyện thần. Tuy có thể đạt một số năng lực kỳ dị, nhưng vì chưa đoạn tận phiền não hữu lậu nên rốt cuộc vẫn không thoát sanh tử luân hồi.
3. Luyện Du-già (Yoga)
Du-già là thuật luyện khí của Ấn Độ, gần giống thuật luyện khí của đạo Tiên. Người luyện Du-già dùng nhiều tư thế và cách tập trung thân tâm để khai thông các huyệt đạo, mong vượt khỏi sự đòi hỏi của xác thân, sống an vui tự tại, thậm chí mong có thần thông biến hóa. Tuy có thể đạt những khả năng khác thường về thân xác và tinh thần, nhưng nếu không dẹp trừ vô minh phiền não thì vẫn không thể liễu sanh thoát tử và minh tâm kiến tánh.
4. Luyện thôi miên
Nguyên tắc của thôi miên cũng là vận dụng sự tập trung tư tưởng vào một chỗ để cho tinh thần có sức mạnh sai khiến sự vật. Người luyện thôi miên nhìn chăm chú vào một điểm để gom sức mạnh tâm thần thành luồng điện tinh thần. Dù có thể dùng để trị bệnh hay làm những việc kỳ lạ, nhưng vì động cơ thường chỉ nhằm cái huyền bí, mầu nhiệm bên ngoài mà không lo dẹp trừ phiền não hữu lậu, nên không phải chánh đạo.
II. PHÀM PHU THIỀN
Phàm phu thiền cũng gọi là thế gian thiền. Sở dĩ gọi như thế vì các pháp thiền này chưa có thể đưa hành giả ra ngoài tam giới, chưa chứng được thánh quả, mà vẫn còn quanh quẩn trong vòng phàm phu hay thế gian. Các pháp như Tứ thiền, Tứ không v.v... đều thuộc phàm phu thiền.
1. Tứ thiền
- Sơ thiền, ly sanh hỷ lạc: nhàm chán dục giới, nhờ tham thiền mà xa lìa được sự ô trược nên sanh vui mừng.
- Nhị thiền, định sanh hỷ lạc: bỏ cái vui thô của sơ thiền, đi sâu vào định để có cái vui vi tế hơn.
- Tam thiền, ly hỷ diệu lạc: bỏ hỷ của nhị thiền, đạt cái vui mầu nhiệm vi tế.
- Tứ thiền, xả niệm thanh tịnh: xả luôn cái niệm vui để tâm hoàn toàn thanh tịnh.
2. Tứ không định
- Không vô biên xứ định: vượt sắc tướng, thể nhập với hư không vô biên.
- Thức vô biên xứ định: vượt luôn biên giới của thức.
- Vô sở hữu xứ định: xa lìa năng sở, không còn thấy có sở hữu.
- Phi tưởng phi phi tưởng xứ định: không còn tưởng theo nghĩa phàm tục nhưng vẫn sáng suốt.
Có chỗ nói Tứ không thuộc về ngoại đạo. Trong thực tế, người tu thiền từ Sơ thiền đến Tam thiền rồi có hai con đường tẻ: một con đường hướng về ngũ A-na-hàm ở cõi Tứ thiền; một con đường đi về Tứ không của cõi Vô sắc, thuộc về ngoại đạo.
III. NHỊ THỪA THIỀN
Nhị thừa hay Tiểu thừa thiền thuộc về xuất thế gian thiền, nghĩa là người tu theo các loại thiền này có thể vượt ra ngoài thế gian, thoát được sanh tử luân hồi. Tuy thế, các pháp tu này thường có tính cách tuần tự, cục bộ: tu pháp nào thì chỉ trừ được một phần phiền não của pháp ấy.
Nhị thừa thiền có rất nhiều phương pháp tu như Ngũ đình tâm quán, Cửu tưởng quán, Tứ vô lượng tâm, Thập lục đặc thắng, Thông minh thiền, Thập nhất thiết xứ quán, Bát bối xả quán, Bát thắng xứ quán, Lục diệu pháp môn, Bát niệm, Thập quán tưởng, Cửu thứ đệ định, Sư tử phấn tấn tam muội, Ba mươi bảy phẩm trợ đạo v.v...
Một số pháp môn tiêu biểu:
- Ngũ đình tâm quán: quán sổ tức, bất tịnh, từ bi, nhân duyên, giới phân biệt.
- Cửu tưởng quán: quán thây sình, thây hoại, máu mủ chảy, thây rục rã, thây xanh chàm, bị giòi rúc, tan rã, còn xương, xương bị đốt tiêu.
- Tứ vô lượng tâm: từ, bi, hỷ, xả.
- Ba mươi bảy phẩm trợ đạo: ngũ căn, ngũ lực, tứ chánh cần, tứ như ý túc, tứ niệm xứ, thất bồ-đề phần, bát chánh đạo phần.
Điều quan trọng là hành giả phải chọn pháp môn thích hợp với căn cơ của mình và cần có minh sư hướng dẫn. Ngày xưa, các vị chân tu đi “cầu pháp” hết xứ này sang xứ nọ chính là vì muốn tìm đúng thầy, đúng pháp. Người tu cũng không nên nóng nảy; tu hành cũng như trồng cây, phải lo bón phân, tưới nước, chăm sóc đầy đủ rồi kiên nhẫn chờ ngày hoa nở quả chín.
IV. ĐẠI THỪA THIỀN
Đại thừa thiền là pháp tu thiền của bậc Đại thừa, cũng gọi là xuất thế gian thượng thượng thiền. Pháp thiền này chỉ dành riêng cho những người thượng căn rất thông minh và lanh lợi. Yếu tố căn bản của Đại thừa thiền là trí huệ. Thiền giả phải lấy trí huệ để tự quan sát tâm tánh; nếu thiếu trí huệ thì khó được kết quả.
Các pháp thiền định của Đại thừa rất nhiều như: Pháp hoa tam muội, Niệm Phật tam muội, Ban-chu tam muội, Giác ý tam muội, Thủ-lăng-nghiêm tam muội, Tự tánh thiền, Nhất thiết thiền, Nhất thiết môn thiền, Thiện nhân thiền, Nhất thiết hạnh thiền, Trừ phiền não thiền, Thử thế tha thế thiền, Thanh tịnh tịnh thiền, Tự tánh thanh tịnh thiền, Như Lai tối thượng thừa thiền, Đạt-ma Tổ-sư thiền v.v...
1. Các pháp tam muội
Những pháp như Pháp hoa tam muội, Niệm Phật tam muội, Giác ý tam muội, Thủ-lăng-nghiêm tam muội căn cứ theo kinh sách của Phật Tổ truyền dạy mà tu tập; có tu, có quán, có phương pháp nhất định, được phổ biến bằng văn tự nên tương đối ít khó khăn và bí hiểm hơn.
2. Trực chỉ thiền và giáo ngoại biệt truyền
Loại thứ hai là thiền không căn cứ theo kinh giáo, không có văn tự, tức là loại “giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự”. Đây là pháp thiền trực chỉ tâm người, thấy tánh thành Phật. Người ngộ trước dùng tâm giác ngộ của mình để ấn chứng cho người sau giác ngộ. Đó là lối “dĩ tâm ấn tâm, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”.
Cách truyền pháp có hai lối chính: hoặc trao cho đệ tử một câu thoại đầu để tham cứu trong nhiều năm cho đến khi ngộ đạo; hoặc dùng những hình thức rất lạ lùng như đánh, hét, ra dấu, mời ăn cơm, uống trà v.v... để làm bật sáng tâm thức đúng lúc đúng cơ.
V. HỆ THỐNG TRUYỀN THỪA CỦA CÁC TỔ THIỀN Ở ẤN ĐỘ
Nguồn gốc phát khởi Thiền tông được gắn với hội Linh Sơn: ông Đại Phạm Thiên Vương đem hoa sen dâng cúng Phật, Phật cầm cành hoa đưa lên để khai thị cho đại chúng. Toàn thể chúng hội đều yên lặng, chỉ có ngài Ma-Ha Ca-Diếp tỏ ngộ thiền cơ của Phật, nên đổi sắc mặt vui vẻ, chúm chím mỉm cười. Đức Phật liền ấn chứng cho ngài Ca-Diếp được đắc truyền và làm Sơ tổ của Thiền tông ở Ấn Độ.
Từ ngài Ma-Ha Ca-Diếp truyền cho ngài A-Nan, rồi tiếp tục cho đến vị Tổ thứ 28 là ngài Bồ-Đề-Đạt-Ma. Hai mươi tám vị Tổ này đã làm rực rỡ cho Phật giáo ở Ấn Độ, đặt nền cho sự lan truyền sâu rộng của Thiền tông về sau.
VI. SỰ TRUYỀN THỪA THIỀN TÔNG Ở TRUNG HOA
Sau khi được ngài Bát-Nhã-Đa-La ấn chứng làm vị Tổ thứ 28 ở Ấn Độ, ngài Bồ-Đề-Đạt-Ma sang Trung Hoa truyền đạo vào đời Lương Võ Đế. Không gặp được căn cơ thích hợp nơi triều đình, Tổ vào chùa Thiếu Lâm ở Tung Sơn, ngồi xây mặt vào tường chín năm để đợi thời cơ. Chính lối tham thiền này về sau được gọi là Đạt-ma Tổ-sư thiền.
Người cầu đạo tha thiết nhất là ngài Thần Quang. Sau nhiều ngày đứng chờ trong tuyết, ngài chặt cánh tay để cầu pháp và được Tổ khai thị, đổi tên là Huệ Khả, trở thành Nhị tổ ở Trung Hoa. Từ đó truyền đến Tăng Xán, Đạo Tín, Hoằng Nhẫn và Huệ Năng là Lục tổ.
Câu chuyện truyền y bát giữa Hoằng Nhẫn và Huệ Năng là một mốc lớn trong lịch sử Thiền tông: Thần Tú làm bài kệ “Thân thị Bồ-đề thọ...”, còn Huệ Năng đáp lại bằng bài kệ “Bồ-đề bổn vô thọ...” và được Ngũ tổ ấn chứng. Từ đó, Thiền tông nổi bật với hai hướng “Nam đốn, Bắc tiệm”, tức Nam Năng và Bắc Tú.
VII. HAI PHÁI VÀ NĂM DÒNG THIỀN
Từ ngài Lục Tổ Huệ Năng về sau, Thiền tông không còn truyền y bát cho một người duy nhất nữa, mà chia thành hai phái lớn là phái Nam Nhạc và phái Thanh Nguyên. Từ hai phái này phát sinh năm dòng Thiền nổi tiếng:
- Dòng Lâm Tế: nổi bật với phương pháp đánh và hét để khai ngộ.
- Dòng Quy Ngưỡng: thường dùng hình tượng trâu, người, Phật hay chữ Vạn để khai thị.
- Dòng Tào Động: truyền pháp qua Bửu cảnh tam muội.
- Dòng Vân Môn: nổi tiếng với “Nhất tự quán”, có khi chỉ đáp một chữ “Giám” hay “Di”.
- Dòng Pháp Nhãn: dùng sáu tướng trong kinh Hoa Nghiêm như Tổng tướng, Biệt tướng, Đồng tướng, Dị tướng, Thành tướng và Hoại tướng để khai thị.
Những phương pháp truyền pháp ấy thoạt nhìn có vẻ kỳ dị, nhưng cốt lõi vẫn là tùy cơ lập pháp: biết căn cơ người cầu đạo, biết thời tiết đúng lúc và biết dùng phương pháp thích hợp để làm bừng tỉnh tâm thức.
VIII. THIỀN TÔNG Ở VIỆT NAM
Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm của Phật giáo Trung Hoa, nên khi Thiền tông được thịnh hành ở Trung Hoa thì ở Việt Nam, Thiền tông cũng trở thành một phái chính của đạo Phật. Thiền tông Việt Nam chỉ có thể xuất hiện sau khi Thiền tông đã được Đạt-ma truyền sang Trung Hoa vào đầu thế kỷ VI.
Lịch sử ghi nhận năm 580, ngài Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi lần đầu tiên truyền Thiền tông vào Việt Nam, trở thành vị Sơ tổ của một dòng Thiền trên đất Việt. Sau đó còn có phái Vô Ngôn Thông, phái Thảo Đường, phái Trúc Lâm, phái Lâm Tế và phái Liễu Quán.
Đặc biệt đáng hãnh diện cho Phật tử Việt Nam là phái Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông sáng lập. Đây là phái Thiền tông phát tích tại chính đất nước Việt Nam, mang đậm bản sắc dân tộc. Ngoài ra, phái Liễu Quán là một dòng Thiền lớn có ảnh hưởng sâu rộng từ miền Trung trở vào miền Nam, tuy về nguồn gốc vẫn là nhánh Việt hóa của phái Lâm Tế.
IX. CÁC KINH SÁCH NÓI VỀ THIỀN
Kinh sách nói về Thiền không thể kể xiết. Tuy thế, để người học khỏi bỡ ngỡ trong khi nghiên cứu, có thể ghi nhớ một số sách thiết yếu như: Kinh Lăng-già, Kinh Lăng-nghiêm, Kinh Viên Giác, Kinh Pháp Bảo Đàn, Đại thừa Chỉ quán, Tiểu Chỉ quán, Ma-ha Chỉ quán, Đồng mông Chỉ quán, Kinh Kim Cang, Truyền Đăng Lục, Thiền gia Ngữ lục, Tọa thiền Chỉ nam, Tông Kính Lục, Luận Đại thừa Khởi tín, Vô Môn Quán, Bích Nham Lục, Thung Dung Lục, Thiền lâm Vĩnh Gia tập, Thiền tông Chỉ nam v.v...
X. TỔNG KẾT CÁC LOẠI THIỀN ĐỊNH
Thiền định có nhiều loại, nhưng tóm lại có thể chia làm hai loại lớn: chánh định và tà định; hoặc chia theo căn cơ thành ngoại đạo thiền, phàm phu thiền và Phật giáo thiền.
Thiền định của ngoại đạo là những lối tu có tâm niệm không chơn chánh, nhằm cầu những điều huyền diệu, thần thông, trường sinh, danh lợi hay khoái lạc.
Thiền định của phàm phu là những pháp thiền mà người tu chán cõi Dục, mong sanh về cõi Sắc hay Vô Sắc để hưởng thú vui thanh thoát, nhưng vẫn còn trong tam giới.
Thiền định của Phật giáo gồm Tiểu thừa thiền và Đại thừa thiền. Tiểu thừa thiền tu từng pháp để trừ từng phần phiền não; Đại thừa thiền dành cho hàng căn cơ mau lẹ, có thể đốn ngộ, y theo tâm xưa nay vốn thanh tịnh mà tu, nên cũng gọi là tối thượng thừa thiền hay Chân như tam muội.
Muốn cho người cầu đạo được kết quả, vị truyền pháp phải hội đủ ba điều kiện: biết căn cơ người cầu đạo, biết thời tiết đúng lúc truyền đạo và biết phương pháp nào thích hợp. Nếu không hợp cơ, hợp thời, hợp pháp thì người tu thiền khó có kết quả.
Ngày xưa nước ta chịu ảnh hưởng rất lớn của Thiền tông và Thiền tông từng là một môn phái rất thịnh hành. Ngày nay, tuy không còn được truyền thọ sung mậu như xưa, nhưng vẫn có cơ sở để hy vọng rằng nhờ giao lưu văn hóa, nhờ sự chuyên tâm tu học của Phật tử Việt Nam, Thiền tông sẽ lấy lại sức sống mạnh mẽ như thời Lý, Trần.
E. KẾT LUẬN CHUNG
Luật tông, Tịnh độ tông và Thiền tông tuy khác nhau về phương pháp, điểm nhấn và căn cơ thích hợp, nhưng đều không đi ra ngoài mục đích chung của Phật pháp là chuyển hóa vô minh, thanh lọc nghiệp chướng, mở sáng trí huệ và hướng đến giác ngộ giải thoát.
Luật tông nhấn mạnh vào kỷ luật và nền tảng đạo đức để từ giới sinh định, từ định phát huệ. Tịnh độ tông nhấn mạnh vào Tín, Nguyện, Hành và sức tiếp dẫn của Phật A-Di-Đà để đưa người tu đi trên con đường dễ hành, dễ chứng. Thiền tông lại đi thẳng vào tâm, dùng định và huệ để trực nhận bản tánh, minh tâm kiến tánh. Ba con đường, một mục đích.
Người học Phật cần hiểu rõ căn cơ của mình để chọn pháp môn phù hợp, nhưng dù đi theo con đường nào, điều thiết yếu vẫn là chân thành tu tập, kiên trì hành trì và luôn hướng về giác ngộ, lợi mình và lợi người.