Duy Thức Tam Thập Tụng - Chánh Văn
Nội dung Bản đọc được trích dẫn nguyên văn từ sách. Các nội dung Video, Audio, Slide và ảnh minh họa được tạo bằng AI để hỗ trợ việc học.

Khóa thứ 9: Luận Đại Thừa Trăm Pháp, Duy Thức và Nhơn Minh Luận
TẬP BA
DUY THỨC TAM THẬP TỤNG DỊ GIẢI
CHÁNH VĂN
DUY THỨC TAM THẬP TỤNG (Toàn văn 30 bài tụng)
Xem infographic: Hành trình tâm thức giác ngộ
Bài này gom trọn nguyên văn chữ Hán và dịch nghĩa của toàn bộ 30 bài tụng Duy Thức Tam Thập Tụng, giúp ôn lại mạch lạc từ ba thức Năng biến, các tâm sở tương ưng, đến ba tự tánh, ba vô tánh và năm địa vị tu chứng.
CHÁNH VĂN: BA THỨC NĂNG BIẾN
Hỏi: Nếu chỉ có thức, tại sao người thế gian và trong Phật giáo đều nói có Ngã và Pháp?
Nguyên văn chữ Hán
Đáp: Luận chủ nói bài tụng để trả lời rằng: Tụng viết:
Do giả thuyết Ngã Pháp
Hữu chủng chủng tướng chuyển
Bỉ y thức sở biến
Thử năng biến duy tam
Vị: Dị thục, Tư lương
Cập liễu biệt cảnh thức.
Dịch nghĩa
Do giả nói Ngã, Pháp:
Các tướng Ngã, Pháp kia,
Nương nơi thức sanh ra.
Thức năng biến có ba:
Dị thục và Tư lương
Cùng thức Liễu biệt cảnh.
CHÁNH VĂN: SƠ NĂNG BIẾN - A LẠI DA THỨC
Hỏi: Trên đã được nói cái "tên" của ba thức Năng biến, song chưa nói rõ cái "tướng"; vậy cái "tướng" của thức Năng biến thứ nhứt thế nào?
Nguyên văn chữ Hán
Đáp: Tụng viết:
Sơ A lại da thức
Dị thục, Nhứt thế chủng
Bất khả tri chấp thọ
Xứ liễu thường dữ xúc
Tác ý, Thọ, Tưởng, Tư
Tương ưng duy Xả thọ
Thị vô phú vô ký
Xúc đẳng diệc như thị
Hằng chuyển như bộc lưu
A la hán vị xả.
Dịch nghĩa
Trước là A lại da,
Dị thục, Nhứt thế chủng.
Không thể biết: giữ, chịu (chấp thọ)
Thế giới (xứ) và phân biệt (liễu).
Tương ưng năm Biến hành,
Năm thọ chỉ Xả thọ
Thức này và Tâm sở
Hằng chuyển như nước thác
A la hán mới xả.
CHÁNH VĂN: ĐỆ NHỊ NĂNG BIẾN - MẠT NA THỨC
Hỏi: Trên đã nói thức Năng biến thứ nhứt; còn thức năng biến thứ hai thế nào?
Nguyên văn chữ Hán
Đáp: Tụng viết:
Thứ đệ nhị năng biến
Thị thức danh Mạt na
Y bỉ chuyển duyên bỉ
Tư lương vi tánh tướng
Tứ phiền não thường câu
Vị: Ngã si, Ngã kiến
Tịnh Ngã mạn, Ngã ái
Cập dư Xúc đẳng câu
Hữu phú vô ký nhiếp
Tuỳ sở sanh sở hệ
A la hán, Diệt định,
Xuất thế đạo vô hữu.
Dịch nghĩa
Thức năng biến thứ hai,
Tên là thức Mạt na.
Nương kia lại duyên kia (A lại da)
Tánh tướng đều lo nghĩ;
Thường cùng bốn phiền não;
Ngã si và Ngã kiến
Ngã mạn với Ngã ái;
Cùng với Xúc vân vân.
Hữu phú vô ký tánh
Sanh đâu chấp ngã đó.
La hán và Diệt định
Đạo Xuất thế không có.
CHÁNH VĂN: ĐỆ TAM NĂNG BIẾN - SÁU THỨC TRƯỚC
Hỏi: Như vậy đã nói thức Năng biến thứ hai, còn thức Năng biến thứ ba thế nào?
Nguyên văn chữ Hán
Đáp: Tụng viết:
Thứ đệ tam Năng biến
Sai biệt hữu lục chủng
Liễu cảnh vi tánh tướng
Thiện, bất thiện, câu phi
Thử tâm sở Biến hành
Biệt cảnh, Thiện, Phiền não
Tuỳ phiền não, Bất định
Giai tam thọ tương ưng
Dịch nghĩa
Thức Năng biến thứ ba
Có sáu món sai biệt
Tánh, tướng đều biết (liễu) cảnh.
Thiện, Bất thiện, Vô ký
Đây tâm sở: Biến hành
Biệt cảnh, Thiện, Phiền não
Tuỳ Phiền não, Bất định,
Tương ưng với ba thọ.
CHÁNH VĂN: TÂM SỞ BIẾN HÀNH VÀ BIỆT CẢNH
Hỏi: Trên đã lược nêu 6 vị tâm sở tương ưng; nay xin nói rõ hành tướng sai khác của các loại tâm sở. Vậy hai vị tâm sở đầu thế nào?
Nguyên văn chữ Hán
Đáp: Tụng viết:
Sơ Biến hành: Xúc đẳng
Thứ Biệt cảnh vị: Dục,
Thắng giải, Niệm, Định, Huệ.
Sở duyên sự bất đồng
Dịch nghĩa
Trước Biến hành là Xúc;
Sau biệt cảnh là Dục,
Thắng giải, Niệm, Định, Huệ
Cảnh bị duyên không đồng.
CHÁNH VĂN: TÂM SỞ THIỆN
Hỏi: Trên đã nói hai loại Biến hành và Biệt cảnh, còn hành tướng của Thiện tâm sở thế nào?
Nguyên văn chữ Hán
Đáp: Tụng viết:
Thiện vị: Tín, Tàm, Quới
Vô tham đẳng tam căn
Cần, An, Bất phóng dật
Hành xả cập Bất hại.
Dịch nghĩa
Thiện là: Tín, Tàm, Quới
Vô tham, Sân và Si
Cần, An, Bất phóng dật
Hành xả và Bất hại
CHÁNH VĂN: TÂM SỞ PHIỀN NÃO CĂN BẢN
Hỏi: Như trên đã nói Thiện tâm sở rồi, còn hành tướng của căn bản phiền não thế nào?
Nguyên văn chữ Hán
Đáp: Tụng viết:
Phiền não vị: Tham, Sân
Si, Mạn, Nghi, Ác kiến.
Dịch nghĩa
Phiền não là: Tham, Sân
Si, Mạn, Nghi, Ác kiến.
CHÁNH VĂN: TÂM SỞ TUỲ PHIỀN NÃO
Hỏi: Trên đã nói 6 món căn bản phiền não còn hành tướng của Tuỳ phiền não thế nào?
Nguyên văn chữ Hán
Đáp: Tụng viết:
Tuỳ phiền não vị: Phẫn
Hận, Phú, Não, Tật, Xan
Cuống, Siểm dữ Hại, Kiêu
Vô tàm cập Vô quới
Trạo cử dữ Hôn trầm
Bất tín tinh Giải đãi
Phóng dật cập Thất niệm
Tán loạn, Bất chánh tri
Dịch nghĩa
Tuỳ phiền não là: Phẫn,
Hận, Phú, Não, Tật, Xan
Cuống, Siểm, và Hại, Kiêu
Vô tàm với Vô quới
Trạo cử cùng Giải đãi
Phóng dật và Thất niệm
Tán loạn, Bất chánh tri.
CHÁNH VĂN: TÂM SỞ BẤT ĐỊNH
Hỏi: Trên đã nói hai mươi món Tuỳ phiền não, còn hành tướng của bốn món Bất định thế nào?
Nguyên văn chữ Hán
Đáp: Tụng viết:
Bất định vị Hối, Miên
Tầm, Tư nhị các nhị.
Dịch nghĩa
Bất định là Hối, Miên
Tầm, Tư lại chia hai
CHÁNH VĂN: PHẬN VỊ HIỆN KHỞI CỦA CÁC THỨC
Hỏi: Trên đã nói 6 loại tâm sở tương ưng rồi, bây giờ làm sao biết được phận vị hiện khởi của 6 thức?
Nguyên văn chữ Hán
Đáp: Tụng viết:
Y chỉ căn bản thức
Ngũ thức tuỳ duyên hiện
Hoặc câu hoặc bất câu
Như đào ba y thuỷ
Ý thức thường hiện khởi
Trừ sanh vô tưởng thiên
Cập vô tâm nhị định
Thuỳ miên dữ muộn tuyệt.
Dịch nghĩa
Nương nơi thức căn bản (A lại da)
Năm thức tuỳ duyên hiện,
Hoặc chung hoặc chẳng chung,
Như sóng nương với nước.
Ý thức thường hiện khởi,
Trừ sanh trời vô tưởng
Và hai định vô tâm,
Ngủ mê hay chết giả.
CHÁNH VĂN: CÁC THỨC CHUYỂN BIẾN - TẤT CẢ DUY THỨC
Hỏi: Trên đã nói ba thức Năng biến, đều do hai phần làm sở y, rồi tự nó biến ra hai phần (Kiến phần và Tướng phần); bây giờ làm sao lại biết "Tất cả đều Duy thức biến ra" rồi giả nói ngã pháp, chứ không phải thật có?
Nguyên văn chữ Hán
Đáp: Tụng viết:
Thị chư thức chuyển biến
Phân biệt sở Phân biệt
Do thử bỉ giai vô
Cố nhứt thế Duy thức.
Dịch nghĩa
Các thức này chuyển biến:
Phân biệt, bị phân biệt.
Do bỉ, thử đều không
Nên tất cả Duy thức,
CHÁNH VĂN: NỘI THỨC SANH CÁC MÓN PHÂN BIỆT
Hỏi: Nếu chỉ có nội thức không có ngoại cảnh để làm duyên, thì làm sao sanh ra các món phân biệt?
Nguyên văn chữ Hán
Đáp: Tụng viết:
Do nhứt thế chủng thức
Như thị như thị biến
Dĩ triển chuyển lực cố
Bỉ bỉ phân biệt sanh
Dịch nghĩa
Do tất cả chủng thức,
Biến như vậy như vậy;
Vì sức biến chuyển đó,
Sanh các món phân biệt.
CHÁNH VĂN: SANH TỬ TƯƠNG TỤC
Hỏi: Nếu chỉ có nội thức, không có ngoại cảnh để làm trợ duyên, thì tại làm sao chúng hữu tình lại sanh tử tương tục?
Nguyên văn chữ Hán
Đáp: Tụng viết:
Do chư nghiệp tập khí
Nhị thủ tập khí câu
Tiền Dị thục ký tận
Phục sanh dư Dị thục
Dịch nghĩa
Do chủng tử các nghiệp
Và chủng tử hai thủ (năng thủ, sở thủ)
Nên Dị thục trước chết
Lại sanh Dị thục sau
CHÁNH VĂN: BA TỰ TÁNH
Hỏi: Nếu chỉ có thức, tại sao trong các kinh đức Thế Tôn nói có ba tánh?
Đáp: Phải biết ba tánh đó cũng không rời thức.
Hỏi: Tại sao thế?
Nguyên văn chữ Hán
Đáp: Tụng viết:
Do bỉ bỉ Biến kế
Biến kế chủng chủng vật
Thử Biến kế sở chấp
Tự tánh vô sở hữu
Y tha khởi tự tánh
Phân biệt duyên sở sanh
Viên thành thật ư bỉ
Thường viễn ly tiền tánh
Cố thử dữ Y tha
Phi dị phi bất dị
Như vô thường đẳng tánh
Phi bất kiến thử bỉ.
Dịch nghĩa
Do các tánh biến kế,
Chấp hết tất cả vật.
Tánh Biến kế sở chấp,
Tự nó không thật có.
Còn tánh Y tha khởi
Do các duyên mà sanh.
Viên thành thật với kia (Y tha)
Xa lìa Biến kế trước.
Thành thật với Y tha,
Cũng khác cũng không khác;
Như vô thường vân vân
Chẳng thấy đây (Viên thành) và kia (Y tha).
CHÁNH VĂN: BA VÔ TÁNH
Hỏi: Nếu có ba tánh, tại sao đức Thế Tôn nói: "Tất cả pháp đều không có tự tánh"?
Nguyên văn chữ Hán
Đáp: Tụng viết:
Tức y thử tam tánh,
Lập bỉ tam vô tánh.
Cố Phật mật ý thuyết:
Nhứt thế pháp vô tánh.
Sơ tức tướng vô tánh,
Thứ vô tự nhiên tánh,
Hậu do viễn ly tiền:
Sở chấp ngã pháp tánh.
Thử chư pháp thắng nghĩa,
Diệc tức thị Chơn như:
Thường như kỳ tánh cố;
Tức Duy thức thật tánh.
Dịch nghĩa
Y theo ba tánh này,
Lập ra ba vô tánh.
Nên Phật mật ý nói:
Tất cả pháp vô tánh.
Trước là "tướng" vô tánh,
Kế, không tự nhiên tánh,
Sau, do xa lìa trước:
Tánh chấp Ngã và Pháp.
Đây Thắng nghĩa các Pháp,
Cũng tức là Chơn như,
Vì tánh thường như vậy,
Tức thật tánh Duy thức.
CHÁNH VĂN: NĂM ĐỊA VỊ NGỘ NHẬP DUY THỨC
Hỏi: Như thế là đã thành lập tướng và tánh của Duy thức. Vậy người nào, có mấy vị, và làm sao ngộ nhập được Duy thức?
Đáp: Phải người có đủ hai món tánh Đại thừa và tu hành trải qua năm địa vị sau này, mới ngộ nhập được Duy thức tánh:
- Vị Tư lương
- Vị Gia hạnh
- Vị Thông đạt
- Vị Tu tập
- Vị Cứu cánh
1. Vị Tư lương
Hỏi: Hành tướng của vị Tư lương thế nào?
Đáp: Tụng viết:
Nãi chí vị khởi thức
Cầu trụ Duy thức tánh
Ư nhị thủ tuỳ miên
Du vi năng phục diệt
Cho đến chưa khởi thức
Cầu trụ Duy thức tánh
Hai thủ còn miên phục
Chưa có thể diệt trừ.
2. Vị Gia hạnh
Hỏi: Hành tướng của vị Gia hạnh thế nào?
Đáp: Tụng viết:
Hiện tiền lập thiểu vật
Vị thị Duy thức tánh
Dĩ hữu sở đắc cố
Phi thật trụ Duy thức
Hiện tiền còn một tí
Gọi là Duy thức tánh;
Vì còn sở đắc vậy,
Chẳng thật trụ Duy thức.
3. Vị Thông đạt
Hỏi: Hành tướng của vị Thông đạt thế nào?
Đáp: Tụng viết:
Nhược thời ư sở duyên
Trí đô vô sở đắc
Nhĩ thời trụ Duy thức
Ly nhị thủ tướng cố.
Khi nào "cảnh" bị duyên
Và "trí" đều không có
Khi đó trụ Duy thức
Đã lìa hai món thủ.
4. Vị Tu tập
Hỏi: Hành tướng của vị Tu tập thế nào?
Đáp: Tụng viết:
Vô đắc bất tư nghị
Thị xuất thế gian trí
Xả thị thô trọng cố
Tiên chứng đắc chuyển y.
"Không đặng", chẳng nghĩ bàn;
Đây là "Trí xuất thế" (vô phân biệt trí)
Vì bỏ hai Thô trọng
Nên chứng đặng "chuyển y"
5. Vị Cứu cánh
Hỏi: Hành tướng của vị Cứu cánh thế nào?
Đáp: Tụng viết:
Thử tức vô lậu giới
Bất tư nghị, Thiện, Thường
An lạc, Giải thoát thân
Đại Mâu ni danh Pháp.
Đây là cõi Vô lậu
Bất tư nghị, Thiện, Thường
An lạc, Giải thoát thân
Đại Mâu ni Pháp thân