Bài học 25 / 69

Duy Thức Tam Thập Tụng - Chánh Văn

Bài viết 43 min Cập nhật: 15 thg 7, 2026
🧭
Khám phá nhiều cách học!

Mỗi tab bên dưới là một cách tiếp cận bài học khác nhau — hãy thử nhiều cách để ghi nhớ sâu hơn.

Nội dung Bản đọc được trích dẫn nguyên văn từ sách. Các nội dung Video, Audio, Slideảnh minh họa được tạo bằng AI để hỗ trợ việc học.

Infographic - Đạo Phật

Khóa thứ 9: Luận Đại Thừa Trăm Pháp, Duy Thức và Nhơn Minh Luận

TẬP BA

DUY THỨC TAM THẬP TỤNG DỊ GIẢI

CHÁNH VĂN

DUY THỨC TAM THẬP TỤNG (Toàn văn 30 bài tụng)

Xem infographic: Hành trình tâm thức giác ngộ

Bài này gom trọn nguyên văn chữ Hán và dịch nghĩa của toàn bộ 30 bài tụng Duy Thức Tam Thập Tụng, giúp ôn lại mạch lạc từ ba thức Năng biến, các tâm sở tương ưng, đến ba tự tánh, ba vô tánh và năm địa vị tu chứng.

CHÁNH VĂN: BA THỨC NĂNG BIẾN

Hỏi: Nếu chỉ có thức, tại sao người thế gian và trong Phật giáo đều nói có Ngã và Pháp?

Nguyên văn chữ Hán

Đáp: Luận chủ nói bài tụng để trả lời rằng: Tụng viết:

Do giả thuyết Ngã Pháp

Hữu chủng chủng tướng chuyển

Bỉ y thức sở biến

Thử năng biến duy tam

Vị: Dị thục, Tư lương

Cập liễu biệt cảnh thức.

Dịch nghĩa

Do giả nói Ngã, Pháp:

Các tướng Ngã, Pháp kia,

Nương nơi thức sanh ra.

Thức năng biến có ba:

Dị thục và Tư lương

Cùng thức Liễu biệt cảnh.

CHÁNH VĂN: SƠ NĂNG BIẾN - A LẠI DA THỨC

Hỏi: Trên đã được nói cái "tên" của ba thức Năng biến, song chưa nói rõ cái "tướng"; vậy cái "tướng" của thức Năng biến thứ nhứt thế nào?

Nguyên văn chữ Hán

Đáp: Tụng viết:

Sơ A lại da thức

Dị thục, Nhứt thế chủng

Bất khả tri chấp thọ

Xứ liễu thường dữ xúc

Tác ý, Thọ, Tưởng, Tư

Tương ưng duy Xả thọ

Thị vô phú vô ký

Xúc đẳng diệc như thị

Hằng chuyển như bộc lưu

A la hán vị xả.

Dịch nghĩa

Trước là A lại da,

Dị thục, Nhứt thế chủng.

Không thể biết: giữ, chịu (chấp thọ)

Thế giới (xứ) và phân biệt (liễu).

Tương ưng năm Biến hành,

Năm thọ chỉ Xả thọ

Thức này và Tâm sở

Hằng chuyển như nước thác

A la hán mới xả.

CHÁNH VĂN: ĐỆ NHỊ NĂNG BIẾN - MẠT NA THỨC

Hỏi: Trên đã nói thức Năng biến thứ nhứt; còn thức năng biến thứ hai thế nào?

Nguyên văn chữ Hán

Đáp: Tụng viết:

Thứ đệ nhị năng biến

Thị thức danh Mạt na

Y bỉ chuyển duyên bỉ

Tư lương vi tánh tướng

Tứ phiền não thường câu

Vị: Ngã si, Ngã kiến

Tịnh Ngã mạn, Ngã ái

Cập dư Xúc đẳng câu

Hữu phú vô ký nhiếp

Tuỳ sở sanh sở hệ

A la hán, Diệt định,

Xuất thế đạo vô hữu.

Dịch nghĩa

Thức năng biến thứ hai,

Tên là thức Mạt na.

Nương kia lại duyên kia (A lại da)

Tánh tướng đều lo nghĩ;

Thường cùng bốn phiền não;

Ngã si và Ngã kiến

Ngã mạn với Ngã ái;

Cùng với Xúc vân vân.

Hữu phú vô ký tánh

Sanh đâu chấp ngã đó.

La hán và Diệt định

Đạo Xuất thế không có.

CHÁNH VĂN: ĐỆ TAM NĂNG BIẾN - SÁU THỨC TRƯỚC

Hỏi: Như vậy đã nói thức Năng biến thứ hai, còn thức Năng biến thứ ba thế nào?

Nguyên văn chữ Hán

Đáp: Tụng viết:

Thứ đệ tam Năng biến

Sai biệt hữu lục chủng

Liễu cảnh vi tánh tướng

Thiện, bất thiện, câu phi

Thử tâm sở Biến hành

Biệt cảnh, Thiện, Phiền não

Tuỳ phiền não, Bất định

Giai tam thọ tương ưng

Dịch nghĩa

Thức Năng biến thứ ba

Có sáu món sai biệt

Tánh, tướng đều biết (liễu) cảnh.

Thiện, Bất thiện, Vô ký

Đây tâm sở: Biến hành

Biệt cảnh, Thiện, Phiền não

Tuỳ Phiền não, Bất định,

Tương ưng với ba thọ.

CHÁNH VĂN: TÂM SỞ BIẾN HÀNH VÀ BIỆT CẢNH

Hỏi: Trên đã lược nêu 6 vị tâm sở tương ưng; nay xin nói rõ hành tướng sai khác của các loại tâm sở. Vậy hai vị tâm sở đầu thế nào?

Nguyên văn chữ Hán

Đáp: Tụng viết:

Sơ Biến hành: Xúc đẳng

Thứ Biệt cảnh vị: Dục,

Thắng giải, Niệm, Định, Huệ.

Sở duyên sự bất đồng

Dịch nghĩa

Trước Biến hành là Xúc;

Sau biệt cảnh là Dục,

Thắng giải, Niệm, Định, Huệ

Cảnh bị duyên không đồng.

CHÁNH VĂN: TÂM SỞ THIỆN

Hỏi: Trên đã nói hai loại Biến hành và Biệt cảnh, còn hành tướng của Thiện tâm sở thế nào?

Nguyên văn chữ Hán

Đáp: Tụng viết:

Thiện vị: Tín, Tàm, Quới

Vô tham đẳng tam căn

Cần, An, Bất phóng dật

Hành xả cập Bất hại.

Dịch nghĩa

Thiện là: Tín, Tàm, Quới

Vô tham, Sân và Si

Cần, An, Bất phóng dật

Hành xả và Bất hại

CHÁNH VĂN: TÂM SỞ PHIỀN NÃO CĂN BẢN

Hỏi: Như trên đã nói Thiện tâm sở rồi, còn hành tướng của căn bản phiền não thế nào?

Nguyên văn chữ Hán

Đáp: Tụng viết:

Phiền não vị: Tham, Sân

Si, Mạn, Nghi, Ác kiến.

Dịch nghĩa

Phiền não là: Tham, Sân

Si, Mạn, Nghi, Ác kiến.

CHÁNH VĂN: TÂM SỞ TUỲ PHIỀN NÃO

Hỏi: Trên đã nói 6 món căn bản phiền não còn hành tướng của Tuỳ phiền não thế nào?

Nguyên văn chữ Hán

Đáp: Tụng viết:

Tuỳ phiền não vị: Phẫn

Hận, Phú, Não, Tật, Xan

Cuống, Siểm dữ Hại, Kiêu

Vô tàm cập Vô quới

Trạo cử dữ Hôn trầm

Bất tín tinh Giải đãi

Phóng dật cập Thất niệm

Tán loạn, Bất chánh tri

Dịch nghĩa

Tuỳ phiền não là: Phẫn,

Hận, Phú, Não, Tật, Xan

Cuống, Siểm, và Hại, Kiêu

Vô tàm với Vô quới

Trạo cử cùng Giải đãi

Phóng dật và Thất niệm

Tán loạn, Bất chánh tri.

CHÁNH VĂN: TÂM SỞ BẤT ĐỊNH

Hỏi: Trên đã nói hai mươi món Tuỳ phiền não, còn hành tướng của bốn món Bất định thế nào?

Nguyên văn chữ Hán

Đáp: Tụng viết:

Bất định vị Hối, Miên

Tầm, Tư nhị các nhị.

Dịch nghĩa

Bất định là Hối, Miên

Tầm, Tư lại chia hai

CHÁNH VĂN: PHẬN VỊ HIỆN KHỞI CỦA CÁC THỨC

Hỏi: Trên đã nói 6 loại tâm sở tương ưng rồi, bây giờ làm sao biết được phận vị hiện khởi của 6 thức?

Nguyên văn chữ Hán

Đáp: Tụng viết:

Y chỉ căn bản thức

Ngũ thức tuỳ duyên hiện

Hoặc câu hoặc bất câu

Như đào ba y thuỷ

Ý thức thường hiện khởi

Trừ sanh vô tưởng thiên

Cập vô tâm nhị định

Thuỳ miên dữ muộn tuyệt.

Dịch nghĩa

Nương nơi thức căn bản (A lại da)

Năm thức tuỳ duyên hiện,

Hoặc chung hoặc chẳng chung,

Như sóng nương với nước.

Ý thức thường hiện khởi,

Trừ sanh trời vô tưởng

Và hai định vô tâm,

Ngủ mê hay chết giả.

CHÁNH VĂN: CÁC THỨC CHUYỂN BIẾN - TẤT CẢ DUY THỨC

Hỏi: Trên đã nói ba thức Năng biến, đều do hai phần làm sở y, rồi tự nó biến ra hai phần (Kiến phần và Tướng phần); bây giờ làm sao lại biết "Tất cả đều Duy thức biến ra" rồi giả nói ngã pháp, chứ không phải thật có?

Nguyên văn chữ Hán

Đáp: Tụng viết:

Thị chư thức chuyển biến

Phân biệt sở Phân biệt

Do thử bỉ giai vô

Cố nhứt thế Duy thức.

Dịch nghĩa

Các thức này chuyển biến:

Phân biệt, bị phân biệt.

Do bỉ, thử đều không

Nên tất cả Duy thức,

CHÁNH VĂN: NỘI THỨC SANH CÁC MÓN PHÂN BIỆT

Hỏi: Nếu chỉ có nội thức không có ngoại cảnh để làm duyên, thì làm sao sanh ra các món phân biệt?

Nguyên văn chữ Hán

Đáp: Tụng viết:

Do nhứt thế chủng thức

Như thị như thị biến

Dĩ triển chuyển lực cố

Bỉ bỉ phân biệt sanh

Dịch nghĩa

Do tất cả chủng thức,

Biến như vậy như vậy;

Vì sức biến chuyển đó,

Sanh các món phân biệt.

CHÁNH VĂN: SANH TỬ TƯƠNG TỤC

Hỏi: Nếu chỉ có nội thức, không có ngoại cảnh để làm trợ duyên, thì tại làm sao chúng hữu tình lại sanh tử tương tục?

Nguyên văn chữ Hán

Đáp: Tụng viết:

Do chư nghiệp tập khí

Nhị thủ tập khí câu

Tiền Dị thục ký tận

Phục sanh dư Dị thục

Dịch nghĩa

Do chủng tử các nghiệp

Và chủng tử hai thủ (năng thủ, sở thủ)

Nên Dị thục trước chết

Lại sanh Dị thục sau

CHÁNH VĂN: BA TỰ TÁNH

Hỏi: Nếu chỉ có thức, tại sao trong các kinh đức Thế Tôn nói có ba tánh?

Đáp: Phải biết ba tánh đó cũng không rời thức.

Hỏi: Tại sao thế?

Nguyên văn chữ Hán

Đáp: Tụng viết:

Do bỉ bỉ Biến kế

Biến kế chủng chủng vật

Thử Biến kế sở chấp

Tự tánh vô sở hữu

Y tha khởi tự tánh

Phân biệt duyên sở sanh

Viên thành thật ư bỉ

Thường viễn ly tiền tánh

Cố thử dữ Y tha

Phi dị phi bất dị

Như vô thường đẳng tánh

Phi bất kiến thử bỉ.

Dịch nghĩa

Do các tánh biến kế,

Chấp hết tất cả vật.

Tánh Biến kế sở chấp,

Tự nó không thật có.

Còn tánh Y tha khởi

Do các duyên mà sanh.

Viên thành thật với kia (Y tha)

Xa lìa Biến kế trước.

Thành thật với Y tha,

Cũng khác cũng không khác;

Như vô thường vân vân

Chẳng thấy đây (Viên thành) và kia (Y tha).

CHÁNH VĂN: BA VÔ TÁNH

Hỏi: Nếu có ba tánh, tại sao đức Thế Tôn nói: "Tất cả pháp đều không có tự tánh"?

Nguyên văn chữ Hán

Đáp: Tụng viết:

Tức y thử tam tánh,

Lập bỉ tam vô tánh.

Cố Phật mật ý thuyết:

Nhứt thế pháp vô tánh.

Sơ tức tướng vô tánh,

Thứ vô tự nhiên tánh,

Hậu do viễn ly tiền:

Sở chấp ngã pháp tánh.

Thử chư pháp thắng nghĩa,

Diệc tức thị Chơn như:

Thường như kỳ tánh cố;

Tức Duy thức thật tánh.

Dịch nghĩa

Y theo ba tánh này,

Lập ra ba vô tánh.

Nên Phật mật ý nói:

Tất cả pháp vô tánh.

Trước là "tướng" vô tánh,

Kế, không tự nhiên tánh,

Sau, do xa lìa trước:

Tánh chấp Ngã và Pháp.

Đây Thắng nghĩa các Pháp,

Cũng tức là Chơn như,

Vì tánh thường như vậy,

Tức thật tánh Duy thức.

CHÁNH VĂN: NĂM ĐỊA VỊ NGỘ NHẬP DUY THỨC

Hỏi: Như thế là đã thành lập tướng và tánh của Duy thức. Vậy người nào, có mấy vị, và làm sao ngộ nhập được Duy thức?

Đáp: Phải người có đủ hai món tánh Đại thừa và tu hành trải qua năm địa vị sau này, mới ngộ nhập được Duy thức tánh:

  1. Vị Tư lương
  2. Vị Gia hạnh
  3. Vị Thông đạt
  4. Vị Tu tập
  5. Vị Cứu cánh

1. Vị Tư lương

Hỏi: Hành tướng của vị Tư lương thế nào?

Đáp: Tụng viết:

Nãi chí vị khởi thức

Cầu trụ Duy thức tánh

Ư nhị thủ tuỳ miên

Du vi năng phục diệt

Cho đến chưa khởi thức

Cầu trụ Duy thức tánh

Hai thủ còn miên phục

Chưa có thể diệt trừ.

2. Vị Gia hạnh

Hỏi: Hành tướng của vị Gia hạnh thế nào?

Đáp: Tụng viết:

Hiện tiền lập thiểu vật

Vị thị Duy thức tánh

Dĩ hữu sở đắc cố

Phi thật trụ Duy thức

Hiện tiền còn một tí

Gọi là Duy thức tánh;

Vì còn sở đắc vậy,

Chẳng thật trụ Duy thức.

3. Vị Thông đạt

Hỏi: Hành tướng của vị Thông đạt thế nào?

Đáp: Tụng viết:

Nhược thời ư sở duyên

Trí đô vô sở đắc

Nhĩ thời trụ Duy thức

Ly nhị thủ tướng cố.

Khi nào "cảnh" bị duyên

Và "trí" đều không có

Khi đó trụ Duy thức

Đã lìa hai món thủ.

4. Vị Tu tập

Hỏi: Hành tướng của vị Tu tập thế nào?

Đáp: Tụng viết:

Vô đắc bất tư nghị

Thị xuất thế gian trí

Xả thị thô trọng cố

Tiên chứng đắc chuyển y.

"Không đặng", chẳng nghĩ bàn;

Đây là "Trí xuất thế" (vô phân biệt trí)

Vì bỏ hai Thô trọng

Nên chứng đặng "chuyển y"

5. Vị Cứu cánh

Hỏi: Hành tướng của vị Cứu cánh thế nào?

Đáp: Tụng viết:

Thử tức vô lậu giới

Bất tư nghị, Thiện, Thường

An lạc, Giải thoát thân

Đại Mâu ni danh Pháp.

Đây là cõi Vô lậu

Bất tư nghị, Thiện, Thường

An lạc, Giải thoát thân

Đại Mâu ni Pháp thân