Bài Thứ 6 - Luân hồi
Nội dung Bản đọc được trích dẫn nguyên văn từ sách. Các nội dung Video, Audio, Slide và ảnh minh họa được tạo bằng AI để hỗ trợ việc học.

A. MỞ ĐỀ
Vấn đề mất còn, sống chết là một vấn đề vô cùng quan trọng, từ xưa đến nay đã làm băn khoăn, thắc mắc không biết bao nhiêu người, đã làm hao tổn không biết bao nhiêu giấy mực.
Tựu trung, có hai thuyết làm cho người ta chú ý đến nhiều nhất:
- Một thuyết cho rằng loài người cũng như loài vật, một lần chết là mất hẳn, không còn gì tồn tại sau đó nữa: “Cát bụi, con người trở về với cát bụi.”
- Một thuyết chủ trương trái lại: loài người chết đi, nhưng linh hồn vẫn vĩnh viễn còn lại, để lên thiên đàng thọ hưởng mãi mãi những sự khoái lạc an vui, hay xuống địa ngục chịu cực hình mãi mãi.
Hai thuyết trên đều không đúng với sự thật:
- Chết rồi không thể là hoàn toàn mất hẳn được, vì như chúng ta thấy ở đời này, không có vật gì là mất hẳn. Cho đến một hạt cát, một mảy lông cũng không thể mất hẳn, huống là cái thân hay biết nơi con người.
- Nhưng bảo rằng linh hồn thường còn, ở mãi trên thiên đàng hay dưới địa ngục cũng không đúng. Trong vũ trụ không có một cái gì có thể vĩnh viễn ở yên một chỗ, mà trái lại, luôn luôn biến đổi và xê dịch. Hơn nữa, còn gì bất công hơn là chỉ vì những cái Nhân đã gieo trong một đời hiện tại ngắn ngủi, mà phải chịu cái Quả vĩnh viễn tốt hay xấu trong tương lai?
Hai thuyết “chấp đoạn” và “chấp thường” ấy đều bị đạo Phật bác bỏ. Theo giáo lý đạo Phật thì chúng sanh không phải đoạn diệt, cũng không phải thường còn, mà là quay lộn trong cảnh sanh tử Luân hồi.
B. CHÁNH ĐỀ
I. ĐỊNH NGHĨA: LUÂN HỒI
Luân hồi dịch từ chữ Samsara trong tiếng Phạn. Theo chữ Hán thì Luân là bánh xe; Hồi là xoay tròn. Hình ảnh bánh xe quay tròn là một hình ảnh rất rõ ràng mà Phật đã dùng để hình dung sự xoay chuyển, lên xuống, xuất hiện của mỗi chúng sanh trong sáu cõi, khi đầu thai ở cõi này, khi ở cõi khác, luôn luôn tiếp nối tử sanh, sanh tử không ngừng, như bánh xe lăn.
Luân hồi là một thuyết có thể chứng nghiệm được, chứ không phải hoang đường. Khi chúng ta đã công nhận luật Nhân quả, thì chúng ta cũng không thể từ chối sự Luân hồi, vì Luân hồi chẳng qua là Nhân quả liên tục. Nhưng vì nó khi biến, khi hiện, khi lên, khi xuống, khi mất, khi còn, khi thay hình đổi dạng, nên chúng ta tưởng như gián đoạn và không ảnh hưởng, chi phối lẫn nhau đó thôi.
II. SỰ LUÂN HỒI TRONG MỌI SỰ VẬT VÀ NGƯỜI
Trong vũ trụ, tất cả sự vật từ vật nhỏ như hạt bụi đến lớn như quả địa cầu, không vật nào chẳng Luân hồi.
1. Đất Luân hồi
Như cái bình bông đang ở trước mặt chúng ta đây, trước kia nó là đất. Người thợ gốm đem nó nhồi nắn làm thành cái bình; trải qua một thời gian, cái bình sẽ bị bể nát, tan thành cát bụi và trở về lại trạng thái đất cát. Đất cát này lại làm thức ăn cho cây cỏ; cây cỏ hoặc tàn rụi, sau một thời gian trở thành phân bón cho cây khác, hoặc làm thực phẩm cho động vật.
Động vật ăn cây cỏ này vào, hoặc bài tiết ngay ra ngoài để thành phân, thành đất, hoặc biến thành máu huyết, da thịt để một ngày kia thân thể động vật già yếu, sẽ tan rã thành đất cát lại. Bao nhiêu lần thay hình đổi dạng, vì nhân duyên này hoặc nhân duyên khác, nhưng đất cát cũng lại trở thành đất cát sau một thời gian, một vòng luân chuyển dài hay ngắn.
2. Nước Luân hồi
Nước ở biển, bị sức nóng mặt trời bốc thành hơi; hơi bay lên không, gặp lạnh biến thành mây; mây nhiều tụ lại rơi xuống thành mưa; mưa chảy xuống ao hồ, hoặc gặp hơi lạnh quá thì đọng lại thành băng, thành giá. Băng giá gặp hơi nóng mặt trời lại tan ra thành nước. Từ vô thủy đến nay, nước thay đổi trạng thái biết bao nhiêu lần, xoay vần mãi mãi như vậy, nhưng nước vẫn là nước.
Hiện tượng của nước thì biến đổi vô cùng, còn bản thể của nước thì không bao giờ mất. Nó chỉ Luân hồi mà thôi.
3. Gió Luân hồi
Gió là sự luân chuyển của không khí. Không khí bị sức nóng mặt trời hun nóng, giãn ra, bốc lên cao làm thành những khoảng trống. Để bù vào những khoảng trống ấy, không khí ở các nơi khác chạy tới điền vào, gây thành luồng gió. Không khí xê dịch chậm thì gió nhỏ, không khí xê dịch nhanh thì gió lớn; nhanh nữa thì thành bão.
Gió có khi hiu hiu, khi thoang thoảng, khi hây hây, khi ào ào, khi cuồng bạo, nhưng bản chất của nó bao giờ cũng là không khí.
4. Lửa Luân hồi
Lửa là một sức nóng làm cháy được vật. Khi đủ nhân duyên thì sức nóng phát ra lửa. Chẳng hạn hai thanh củi trong trạng thái bình thường thì chúng ta chẳng thấy sức nóng ở đâu cả, nhưng khi chà xát vào nhau một hồi thì lửa liền bật lên. Ngọn lửa này có thể đốt hai thanh củi kia, và hai thanh củi này một phần hóa thành tro than, một phần biến thành thán khí.
Những cây khác dùng rễ mình để thu hút thán khí, chất chứa lại sức nóng để một ngày kia, gặp đủ nhân duyên lại bừng cháy lên. Như thế, sức nóng bao giờ cũng có sẵn, nhưng khi thì ở trạng thái tiềm phục, khi thì ở trạng thái phát hiện. Mắt chúng ta chỉ thấy khi nó phát hiện, và chỉ khi ấy mới cho là nó có; còn khi nó ở trạng thái tiềm phục thì ta bảo là nó không có. Thật ra thì nó chỉ Luân hồi qua những trạng thái khác nhau, chứ không phải dứt đoạn hay mất hẳn.
5. Cảnh giới Luân hồi
Trong kinh Phật thường nói: “Thế giới nhiều như cát sông Hằng.” Thật thế, ban đêm chúng ta nhìn lên trời thấy hằng hà sa số tinh tú. Mỗi tinh tú là một thế giới. Và mỗi thế giới ấy đều không thoát ra ngoài định luật chung là Thành, Trụ, Hoại, Không. Mỗi phút giây nào cũng có sự sanh diệt của thế giới.
Thế giới này tan đi, thì thế giới khác nhóm lên, như một làn sóng này mất đi thì một làn sóng khác nổi lên, làm Nhân làm Quả, tiếp nối cho nhau, Luân hồi không bao giờ dứt.
6. Thân người Luân hồi
Thân người hay thân thú vật cũng thế, xét cho cùng thì cũng do tứ đại mà có là đất, nước, gió, lửa. Những chất cứng dẻo như da thịt, gân xương là thuộc về Đất; những chất đượm ướt như máu, mỡ, mồ hôi, nước mắt là thuộc về Nước; hơi thở ra vào, trái tim nhảy, phổi hô hấp, tay chân cử động là thuộc về Gió; hơi nóng trong người là thuộc về Lửa.
Như trên chúng ta đã thấy, tứ đại đều Luân hồi, thì thân người do tứ đại mà có cũng phải Luân hồi theo. Khi thân này chết và đến lúc tan rã, thì chất cứng dẻo trả về cho Đất; chất đượm ướt trả về cho Nước; hơi nóng trả về cho Lửa; hơi thở và sự cử động trả về cho Gió. Rồi bốn chất này tùy theo duyên chung hợp lại, làm thành cây cỏ hay thân người khác.
Người khác đến khi chết rồi, bốn chất đó trở về bản thể cũ của chúng. Khi thành thân người, lúc làm thân súc, năm nay tụ hợp ở đây, sang năm đã dời đi nơi khác, không phải thường còn, cũng không phải mất hẳn, mà là Luân hồi.
Lương Khải Siêu, nhà học giả nổi tiếng của Trung Hoa, có nói trong khi nghiên cứu về Phật giáo Ấn Độ: “Con người luôn luôn, trong từng phút giây đều ở trong Luân hồi, bất quá hoặc mau hoặc chậm. Chậm thì gọi là sanh diệt hoặc biến dị, còn mau thì gọi là Luân hồi.”
7. Tinh thần Luân hồi
Con người không phải chỉ gồm có tứ đại. Ngoài tứ đại, còn có phần tâm lý nữa, hay nói một cách tổng quát hơn, còn có tinh thần. Đó là gồm tất cả những thứ mà đạo Phật gọi là Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Phần thể xác gồm tứ đại chỉ là phần mà đạo Phật gọi là Sắc.
Sắc đã không tiêu diệt mà chỉ biến hóa Luân hồi, thì Tâm hay Tinh thần cũng không tiêu diệt mà chỉ biến chuyển xoay vần mà thôi. Tất cả những hành động của thân tâm tạo thành cho mỗi chúng ta một cái nghiệp. Cái nghiệp ấy biến dịch, xoay vần mãi, khi đội lớp này, khi mang hình dáng khác, khi rời cảnh giới này, khi vào cảnh giới khác, quanh lộn trôi lăn trong lục đạo mãi mãi cho đến ngày nào được giác ngộ mới thôi.
Nhưng sự lên xuống, trôi lăn, xoay vần của nghiệp trong ba cõi sáu đường ấy không phải tình cờ, ngẫu nhiên, may rủi, vô lý, mà trái lại, nó theo một định luật chung, đó là luật Nhân quả. Đến đây, chúng ta thấy được sự tương quan mật thiết giữa Nhân quả và Luân hồi: đã có Nhân quả tức phải có Luân hồi, trừ trường hợp tu nhân giải thoát; đã có Luân hồi thì phải tuân theo luật Nhân quả.
III. LUÂN HỒI THEO LUẬT NHÂN QUẢ QUA SÁU CÕI
Có thể nói một cách chắc chắn rằng, chúng ta lúc sanh tiền tạo Nhân gì, thì khi chết rồi, nghiệp lực dắt dẫn tinh thần đến chỗ nó thọ báo không sai. Nếu tạo Nhân tốt, thì Luân hồi đến cảnh giới giàu sang, thân người tốt đẹp. Còn tạo Nhân tội ác, thì Luân hồi đến cảnh giới nghèo hèn, thân hình xấu xa, tàn tật, sự nghiệp khi thăng khi giáng, lúc thạnh lúc suy.
Sau đây là những cảnh giới mà một chúng sinh có thể bị hay được nhập vào, tùy theo nghiệp nhân mà mình tạo:
- Địa ngục: Tạo nhân sân hận, độc ác, làm nhiều điều tội lỗi vừa hại mình vừa hại người, phải Luân hồi vào địa ngục, chịu đủ điều khổ sở.
- Ngạ quỷ: Tạo nhân tham lam, bỏn xẻn, không biết bố thí giúp đỡ người, từ tiền của đến giáo pháp; trái lại còn mưu sâu kế độc để cướp đoạt của người, sau khi chết Luân hồi làm ngạ quỷ.
- Súc sinh: Tạo nhân si mê, sa đọa theo thất tình, lục dục, tửu sắc, tài khí, không xét hay dở, tốt xấu, chết rồi Luân hồi làm súc sinh.
- A-tu-la: Gặp việc nhân nghĩa thì làm, gặp việc sai quấy cũng không tránh; vừa cang trực mà cũng vừa độc ác. Mặc dù có làm những điều phước thiện, nhưng tánh tình hung hăng nóng nảy vẫn còn, lại thêm tà kiến, si mê, tin theo tà giáo. Tạo nhân như vậy, kết quả sẽ Luân hồi làm A-tu-la, gặp vui sướng cũng có mà buồn khổ cũng nhiều.
- Loài người: Tu nhân Ngũ giới: không sát hại, không trộm cướp, không tà dâm, không dối trá, không rượu chè say sưa, thì đời sau trở lại làm người, cao quý hơn muôn vật.
- Cõi trời: Bỏ mười điều ác, tu nhân Thập thiện thì sau khi chết được sanh lên cõi trời. Nhưng nên nhớ cõi trời này cũng còn ở trong vòng phàm tục, chịu cảnh sanh tử Luân hồi.
Muốn thoát ra ngoài cảnh giới sanh tử Luân hồi, và đến bốn cõi Thánh là Thanh văn, Duyên giác, Bồ Tát và Phật, thì phải tu nhân giải thoát.
IV. MỘT VÀI BẰNG CHỨNG VỀ LUÂN HỒI
1. Một chuyện Luân hồi ở Ấn Độ
Cách đây vài chục năm, báo chí từng đăng một câu chuyện như sau: tại Ấn Độ, ở thành Delhi có một cô gái 8 tuổi tên Phatidevin. Cô nhiều lần khóc lóc với cha mẹ đòi về thành Mita thăm chồng là một giáo viên. Thành Delhi cách thành Mita trên 200 cây số. Cha mẹ cô gái lấy làm lạ, mời một phóng viên đến để nhờ điều tra.
Khi được hỏi, cô cho biết rằng trước đây mình là vợ của một giáo viên, ăn ở với nhau sinh được một đứa con. Khi đứa con lên 11 tuổi, thì cô lâm bệnh và từ trần. Cô còn nói mình có để lại vàng bạc và đồ đạc chôn ở những chỗ nhất định. Cô nhớ rõ có một cái quạt do người chị em bạn tặng, trên quạt có ghi mấy dòng chữ, rồi đọc mấy dòng chữ ấy cho phóng viên chép vào sổ tay.
Phóng viên liền đến thành Mita, tìm hỏi tên họ ông giáo viên thì thật quả không sai. Ông giáo xác nhận những điều cô bé nói đều đúng cả. Khi phóng viên đưa quyển sổ tay chép mấy dòng chữ trên quạt, ông giáo cũng xác nhận trúng y như vậy.
Qua ngày sau, phóng viên lại mời cha mẹ và cô Phatidevin cùng đi tới thành Mita. Từ khi sanh ra đến tám tuổi, cô chưa từng đi xa, thế mà đường đi đến thành Mita cô đều thuộc cả. Cô chỉ đường này tên gì, đi về đâu; đường kia tên gì, đi về đâu; lại còn nói trúng cả tên những nhà quen ở hai bên đường. Gần đến nhà ông giáo, cô bảo xe đi chậm lại và dừng ngay trước nhà.
Vào đến nhà, gặp ông già độ 80 tuổi, đầu tóc bạc phơ, cô vừa mừng vừa khóc òa mà nói: “Đây là cha chồng tôi.” Cô chỉ ông giáo mà nói: “Kia là chồng tôi.” Rồi chạy lại ôm đứa con mà khóc và nói: “Đây là con tôi.” Mọi người trông thấy ai cũng lấy làm ngạc nhiên và cảm động.
Việc này làm sôi nổi dư luận Ấn Độ và các báo trên thế giới đều bàn tán xôn xao. Các nhà bác học ra sức tìm tòi nghiên cứu, nhưng không sao giải thích được. Chúng ta đã rõ biết lý Luân hồi, thì việc này cũng chẳng lạ gì.
2. Một chuyện Luân hồi ở Mỹ
Vào khoảng năm 1956, ở Mỹ có một thiếu phụ 33 tuổi tên Ruth Simmons. Vì quá tin tưởng có kiếp Luân hồi nên cô nhờ nhà thôi miên Morey Bernstein giúp, để thấy lại kiếp trước của mình. Sau khi đưa cô vào giấc ngủ, nhà thôi miên bảo cô nhớ lại hồi 10 tuổi, rồi 1 tuổi; cô lần lượt thuật lại một cách sống động.
Khi được yêu cầu nhớ lại tiền kiếp, sau một lúc im lặng, cô bắt đầu nói với giọng Ái Nhĩ Lan chứ không phải giọng Mỹ. Cô kể rằng kiếp trước mình đầu thai vào gia đình họ Murphy ở làng Cork bên Ái Nhĩ Lan vào năm 1898. Cô tả nơi chôn nhau cắt rốn, cho biết nhiều chi tiết về làng này, nói chồng mình tên Brian Mac Carthy, giáo sư trường luật, từng cộng sự với tờ Belfast News.
Sau cùng cô nói đến ngày cô chết, mả cô hiện ở đâu, và rằng cô đã phải làm ma hơn một thế kỷ trước khi đầu thai vào gia đình Simmons ở Mỹ vào năm 1923. Nhà thôi miên đã ghi lại tất cả lời thuật chuyện của Ruth Simmons và sau đó viết thành sách, gây chú ý rộng lớn trong dư luận quốc tế.
3. Một câu chuyện thay nghiệp đổi xác ở Việt Nam
Ở Cà Mau cách đây vào khoảng 30 năm, có một câu chuyện lạ lùng đã làm dư luận bàn tán xôn xao. Ông Cả Hiêu ở làng Tân Việt, xứ Đầm Dơi có cô gái 19 tuổi lâm bệnh rồi chết. Cách đó độ 100 cây số, ông Hương Thừa ở làng Vĩnh Mỹ, Bạc Liêu cũng có cô con gái đau rồi chết, nhưng lại sống lại.
Khi sống lại, cô này nhìn không biết cha mẹ và nói chuyện đâu đâu, không ai hiểu gì cả. Cha mẹ tưởng rằng vì đau nên cô lãng trí nói bậy. Nhưng khi lành mạnh hẳn, cô lại khóc lóc, một hai đòi về nhà ông Cả Hiêu và chỉ rõ nơi ở, làng tổng. Cha mẹ cô cho người đến tìm ông Cả Hiêu và thuật lại câu chuyện cho vợ chồng ông này nghe. Vợ chồng con cái ông Cả đều đi đến xem thật hư thế nào.
Khi mọi người đến nơi, cô gái chạy ngay đến ôm ông Cả, bà Cả mà khóc kể. Rồi cô thuật lại những chuyện đã xảy ra trong nhà ông Cả, không sai một mảy. Vợ chồng ông Cả tuy thấy xác cô gái này không phải con mình, nhưng về tinh thần lại chính là con họ, nên đều thương yêu và công nhận là con. Về sau, cô còn hưởng được hai phần gia tài của cải, cả hai bên cha mẹ.
V. QUYẾT NGHI
1. Vì sao nhân loại ngày càng đông dù ban đầu chưa có người?
Hỏi: Nếu có Luân hồi, thì khi chết rồi, một người chỉ sanh lại một người thôi, tại sao trên thế giới này, khi mới khai thiên lập địa chưa có người, mà cứ mỗi ngày nhân loại cứ thêm đông? Vậy do đâu mà có nhiều người thế?
Đáp: Chúng sinh Luân hồi trong sáu cảnh giới là Thiên, Nhơn, A-tu-la, Ngạ quỷ, Súc sinh, Địa ngục; và một chúng sanh ở cảnh giới này có thể đầu thai qua cảnh giới khác, đắp đổi cho nhau khi lên khi xuống, chứ không phải chỉ có người mới đầu thai làm người mà thôi. Những loài thú có những tâm trạng gần giống người có thể đầu thai làm người được; cũng như những người có tâm trạng lang sói sẽ trở thành lang sói.
Hơn nữa, trong kinh Phật có chép: thế giới trong vũ trụ này nhiều như cát sông Hằng, chứ đâu phải chỉ một quả đất này là trung tâm của vũ trụ và mới có người. Các nhà bác học cũng công nhận mỗi ngôi sao là một thế giới. Trong hằng hà sa số thế giới ấy, có biết bao nhiêu thế giới có hoàn cảnh giống như quả đất nhỏ bé chúng ta đang ở đây.
Thế giới đã nhiều như thế, thì nhân loại đâu phải ít? Tại sao chúng ta không thể tin được rằng cũng có sự luân chuyển, sự lưu thông, sự trao đổi về phương diện tinh thần, về cái nghiệp giữa thế giới này và thế giới khác? Mỗi một thế giới sắp hoại, thì chúng sinh ở thế giới ấy sẽ di cư đến thế giới khác gần đó. Trong kinh Địa Tạng có chép: “Thử thế giới hoại thời, hoàn ký tha phương...” nghĩa là thế giới này hoại thì gởi qua thế giới khác; thế giới khác hoại lại gởi đến thế giới khác nữa.
Cũng như châu thành Sài Gòn hiện nay, dân số rất đông là do người ở các tỉnh đến. Khi giặc yên, dân chúng lại trở về các tỉnh, thì dân số Sài Gòn tự nhiên bớt. Nên nhiều hay ít là do số dân ở các nơi tựu đến hay tan đi. Trong thế giới hiện nay, nhân loại nhiều hay ít cũng như vậy.
2. Người và thú vật khác nhau, làm sao có thể tái sanh qua lại?
Hỏi: Người và thú vật hoàn toàn khác nhau, làm sao người có thể tái sanh thành thú vật và thú vật thành người được?
Đáp: Người ta thường có quan niệm sai lầm rằng người có linh hồn người, thú vật có linh hồn thú vật; linh hồn người hay linh hồn thú vật đều bất biến, dù chết hay sống. Vì tưởng tượng như thế, nên người ta không thể công nhận rằng chết rồi, linh hồn người trở lại chui vào thân hình chó mèo chẳng hạn, và hồn chó mèo lại có thể vào nằm trong lốt thân hình người ta.
Thật ra, nghiệp không phải là linh hồn, mà là một năng lực có nhuốm tính chất những hành động của mỗi chúng sinh. Vì tính chất riêng biệt ấy mà nghiệp lực nhập vào một hình thức này hay một hình thức khác, do cái luật hấp dẫn: “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu.”
Thay vì nói người kia trở thành thú, hay trái lại, thú kia trở thành người, đúng hơn nên nói: “nghiệp lực phát hiện dưới hình thể người hay dưới hình thể thú.”
(Theo Narada Maha Théra)
C. KẾT LUẬN
Giáo lý Luân hồi đem lại cho chúng ta nhiều điều lợi ích:
- Nó phá đoạn kiến sai lầm, làm cho con người khỏi chán nản vì nghĩ rằng, dù mình có cố gắng ăn ở cho có đạo đức, làm các điều hay đẹp, rồi cuối cùng cũng chẳng đem theo được cái gì, chẳng được hưởng gì cả, một khi thân thể đã tiêu tan.
- Nó phá thường kiến sai lầm, làm cho con người khỏi tin rằng loài người chết rồi vẫn giữ địa vị của mình, dù có làm phúc hay tội cũng vậy; từ đó khỏi sinh tâm buông xuôi trong lúc sinh tiền.
- Với giáo lý Luân hồi, chúng ta phấn khởi mà tin rằng chết rồi không thể mất hẳn; nhưng nếu chúng ta không biết vun trồng cội phúc, không cố gắng sống một đời có đạo đức, thì đời sau, chúng ta sẽ sanh vào cảnh giới xấu xa đen tối.
Giáo lý Luân hồi làm cho chúng ta thêm lòng tự tín, tự thấy mình là chủ nhân của đời mình; mình tạo nghiệp nhân gì thì mình chịu nghiệp quả ấy, chứ không ai cầm cân thưởng phạt, ban phước, giáng họa cho mình cả.
Nay chúng ta đã biết ý nghĩa và giá trị của giáo lý Luân hồi, chúng ta nên cố gắng cải tạo tư tưởng, lời nói và hành vi của mình, để tránh cho kiếp sau khỏi lâm vào cảnh giới đau khổ. Một khi các nhân ác đã được rửa sạch, những quả lành đầy đủ, các nghiệp hữu lậu không còn, lúc bấy giờ chúng ta có thể thoát ra khỏi Luân hồi sanh tử và đạt đến cảnh giới tốt đẹp, bất sanh bất diệt của các vị A-la-hán, Bồ Tát hay Phật.
PHỤ LỤC
1. Tóm lược ý chính
- Luân hồi không phải là đoạn diệt, cũng không phải là thường còn, mà là dòng tiếp nối của sanh tử dưới sự chi phối của nghiệp và luật Nhân quả.
- Mọi sự vật đều vận hành trong Luân hồi, từ đất, nước, gió, lửa đến cảnh giới, thân thể và tinh thần của con người.
- Nghiệp lực là năng lực được tạo bởi hành động thân, khẩu, ý; nó dắt dẫn chúng sinh đi vào các cảnh giới tương ứng.
- Sáu cõi không phải do thần linh phán xử, mà do nghiệp nhân thiện ác của chính mình chiêu cảm.
- Mục tiêu tu học không phải chỉ để đổi sang một cảnh giới tốt hơn, mà là tiến tới chấm dứt hẳn vòng sanh tử Luân hồi.
2. Sáu cõi và nghiệp nhân tiêu biểu
- Địa ngục: sân hận, độc ác, gây tổn hại nặng nề cho mình và người.
- Ngạ quỷ: tham lam, bỏn xẻn, cướp đoạt, không biết bố thí hay sẻ chia.
- Súc sinh: si mê, buông mình theo dục vọng, thiếu xét đoán hay dở, phải trái.
- A-tu-la: có phần nghĩa khí nhưng còn hung hăng, nóng nảy, tà kiến.
- Loài người: giữ gìn Ngũ giới, sống có đạo đức và trách nhiệm.
- Cõi trời: tu Thập thiện, nhưng vẫn chưa ra khỏi vòng Luân hồi.
3. Gợi ý quán chiếu
- Khi gặp biến động trong thân hay tâm, hãy nhìn sâu để thấy không có gì thật đứng yên; mọi thứ đang chuyển biến theo duyên.
- Khi thấy một hành vi xấu khởi lên, hãy nhớ rằng đó là một hạt giống nghiệp đang tạo hướng đi cho tương lai.
- Khi nghe nói đến cảnh giới tốt hay xấu, đừng chỉ hiểu theo nghĩa huyền bí; hãy xem đó là kết quả sống động của những khuynh hướng nội tâm đang lớn dần từng ngày.
- Mỗi ngày nên tự hỏi: hôm nay mình đang bồi đắp nghiệp nào, và mình có đang đi gần hơn hay xa hơn con đường giải thoát?
4. Câu ghi nhớ
Không phải mất hẳn, cũng không phải còn mãi; chúng sanh xoay vần theo nghiệp trong dòng Luân hồi.
Hiểu Luân hồi để sống có trách nhiệm hơn với từng ý nghĩ, lời nói và việc làm của chính mình.