A- Phần tự
Nội dung Bản đọc được trích dẫn nguyên văn từ sách. Các nội dung Video, Audio, Slide và ảnh minh họa được tạo bằng AI để hỗ trợ việc học.

Phật Học Phổ Thông · Khóa XII
KINH KIM CANG BÁT NHÃ BA LA MẬT
A. PHẦN TỰ (Phần mở đầu kinh Bát Nhã)
Chánh văn
Tôi nghe như vầy: Một hôm, tại nước Xá Vệ, Phật và 1250 vị Đại Tỳ-kheo, đều ở Tịnh xá Kỳ Hoàn, trong vườn của ông Thái tử Kỳ Đà và ông Trưởng giả Cấp Cô Độc.
Sắp đến giờ ngọ trai, Phật và chúng tăng đều đắp y, mang bình bát vào thành Xá Vệ, theo thứ lớp khất thực.
Khất thực xong, Phật và chúng tăng đồng về Tịnh xá để thọ trai. Sau khi thọ trai xong, Phật xếp y, cất bình bát và rửa chân, rồi trải toạ cụ, ngồi yên tịnh.
Lược giải
Đây là những cử chỉ bình thường và rất đơn giản; nhưng đã tạo thành một bức tranh tuyệt diệu, nói lên được tinh thần "giải thoát vô trụ", để mở màn cho Phật nói kinh Bát Nhã.
Chúng ta hãy định tâm, đọc kỹ lại một lần nữa, những câu sau này, thì chúng ta sẽ thấy bộc lộ rõ ràng tinh thần Bát Nhã (giải thoát vô trụ).
Sắp đến giờ ngọ trai, Phật và chúng tăng đều đắp y, mang bình bát vào thành Xá Vệ, theo thứ lớp khất thực.
Khất thực xong, Phật và chúng tăng đồng về Tịnh xá để thọ trai. Sau khi thọ trai xong, Phật xếp y, cất bình bát và rửa chân, rồi trải toạ cụ ngồi yên tịnh.
Vì ngộ được tánh "Bát Nhã giải thoát", trùm khắp trên muôn vật, nên Cổ nhơn có nói hai câu:
Thanh thanh tuý trúc, tổng thị Chơn như
Uất uất huỳnh hoa, vô phi Bát Nhã.
Dịch nghĩa:
Mướt mướt tre xanh, biểu lộ Chơn như.
Mởn mởn hoa vàng, trình bày Bát Nhã.
Ngài Thái Hư pháp sư giảng:
"Phật nói kinh này để chỉ rõ trong mỗi chúng sanh đều sẵn đủ bản thể Kim Cang Bát Nhã. Cái diệu dụng của Kim Cang Bát Nhã là làm cho hành giả khi tu Lục độ vạn hạnh, mà không trụ chấp các tướng.
Người ngộ được Kim Cang Bát Nhã rồi thì đối với các pháp và mọi việc đều thông suốt vô ngại; những việc làm bình thường hằng ngày đều là Phật pháp, tạm bình thường đó cũng là Phật pháp cho đến đi, đứng, nằm, ngồi v.v... cũng đều là Phật pháp. Những việc thần thông biến hoá đều là diệu dụng vô thượng của chư Phật đã đành, mà những nỗi mừng, vui, giận, ghét cũng là cái phương tiện hay khéo của Phật pháp.
Trái lại, nếu người chưa nhập được "Kim Cang Bát Nhã", dù có được thần thông biến hoá di sơn đảo hải đi nữa, thì cũng là tà thuật của yêu ma ngoại đạo, dù có thiền định muôn năm, cũng chỉ hưởng phước quả hữu lậu của cõi nhơn, thiên mà thôi; một mai nghiệp báo hết rồi, vẫn trở lại thọ khổ luân hồi trong lục đạo. Quí vị nên chín chắn nghĩ xét!
Kinh Kim Cang Bát Nhã, trong mỗi người đều sẵn đủ và khắp cả pháp giới. Nó không ở trong, không ở ngoài, không ở chính giữa và cũng không rời trong ngoài và chính giữa; không thể nghĩ bàn và cũng không trụ chấp được. Nếu người bền chí tu hành lâu dài, thì sẽ có ngày tự nhiên đốn ngộ. Trái lại, nếu người hướng ngoại tìm cầu, chấp rằng Phật có thần thông biến hoá v.v... phải có đủ như thế, mới phải là Phật. Những người chấp như thế, không thể phân biệt, giản trạch được thế nào là Phật pháp và thế nào là ngoại đạo. Than ôi! nếu sai một hào ly, thì cách xa ngàn dặm! Quí vị phải cẩn thận, rất cẩn thận!"
(KIM CANG GIẢNG LỤC)
GIẢI DANH TỪ
TÔI NGHE NHƯ VẦY:
Trong trí Độ Luận có chép: "Khi Đức Như Lai sắp nhập Niết bàn, ông Ưu Ba Ly nói với A Nan rằng: Ông là người giữ gìn "Pháp tạng" của Phật, ông phải bạch Phật những điều cần yếu về sau.
Ông Ưu Ba Ly và A Nan cùng nhau đến bạch Phật bốn điều:
1. Tất cả các kinh của Phật, mở đầu nên đề chữ gì?
2. Phật nhập diệt rồi lấy ai làm thầy?
3. Nương nơi đâu mà trụ?
4. Xá lợi và y bát của Phật, phân như thế nào?
Phật dạy:
1. Mở đầu các kinh, hãy để "Như thị ngã văn" (tôi nghe như vầy).
2. Ta nhập Niết bàn, các ông phải lấy "giới luật" làm thầy.
3. Các ông phải trụ nơi pháp "Tứ niệm xứ" (quán thân bất tịnh, quán thọ thị khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã).
4. Xá lợi của ta chia làm ba phần (một phần thờ tại nhơn gian, một phần thờ trên các cõi trời, một phần thờ dưới Long cung) còn y và bát truyền lại cho ông Ma Ha Ca Diếp.
TỲ KHEO:
Tỳ kheo là dịch âm của tiếng Phạn, dịch nghĩa có ba:
Khất sĩ: Là kẻ đi xin: trên xin giáo pháp của Phật để nuôi tuệ mạng, dưới xin vật thực để nuôi thân.
Phá ác: Phá trừ các việc tội ác.
Bố ma: Làm khủng bố các ma.
NGỌ TRAI:
Phật độ cơm đúng giờ ngọ (12 giờ trưa) nên gọi là "ngọ trai". Những thực phẩm cúng dường chư Tăng, trong giờ ngọ, thì gọi là "Trai Tăng".
Y:
Y phục của chư Tăng, tức là áo Cà-sa. Y phục của chư Tăng bằng vải, có nhiều loại: Không điều (mạn y), năm điều, bảy điều và chín điều v.v...
BÌNH BÁT:
Đồ đựng thức ăn của chư Tăng, làm bằng sành v.v... lớn hay nhỏ tuỳ sức người dùng.
TOẠ CỤ:
Tấm vải để lót ngồi của Phật hoặc chư Tăng.