Bài Thứ 1 - Luận Đại Thừa Trăm Pháp
Nội dung Bản đọc được trích dẫn nguyên văn từ sách. Các nội dung Video, Audio, Slide và ảnh minh họa được tạo bằng AI để hỗ trợ việc học.

Khóa thứ 9: Luận Đại Thừa Trăm Pháp, Duy Thức và Nhơn Minh Luận
TẬP NHẤT
LUẬN ĐẠI THỪA TRĂM PHÁP VÀ BÁT THỨC QUY CỦ TỤNG
Ngài THIÊN THÂN Bồ Tát tạo luận
Ngài HUYỀN TRANG Pháp sư dịch chữ Phạn ra chữ Hán
Sa môn THÍCH THIỆN HOA dịch lại chữ Việt và lược giải.
BÀI THỨ NHẤT - LUẬN ĐẠI THỪA TRĂM PHÁP
(Trích yếu Bài này nên học thuộc lòng)
PHẦN THỨ NHẤT - CHÁNH VĂN
Hỏi: Như lời Phật dạy: "Tất cả các pháp đều vô ngã". Vậy cái gì là "Tất cả pháp" và sao gọi là "vô ngã"?
Đáp: Tất cả các pháp tuy nhiều, nhưng tóm lại có 100 pháp, chia làm 5 loại:
- Tâm pháp (Có 8 món)
- Tâm sở hữu pháp (Có 51 món)
- Sắc pháp (Có 11 món)
- Tâm bất tương ưng hành pháp (Có 24 món)
- Vô vi pháp (Có 6 món)
I. TÂM PHÁP HOẶC GỌI LÀ TÂM VƯƠNG CÓ 8 MÓN
- Nhãn thức (cái biết của mắt)
- Nhĩ thức (cái biết của tai)
- Tỷ thức (cái biết của mũi)
- Thiệt thức (cái biết của lưỡi)
- Thân thức (cái biết của thân)
- Ý thức (cái biết của ý)
- Mạt-na thức (Thức thứ 7)
- A-lại-da thức (Thức thứ 8)
II. TÂM SỞ HỮU PHÁP, GỌI TẮT LÀ TÂM SỞ, CÓ 51 MÓN, PHÂN LÀM 6 LOẠI
- Biến hành, có năm: Xúc, Tác ý, Thọ, Tưởng, Tư.
- Biệt cảnh, có năm: Dục, Thắng giải, Niệm, Định, Huệ.
- Thiện, có mười một: Tín, Tàm, Quý, Vô tham, Vô sân, Vô si, Tinh tấn, Khinh an, Bất phóng dật, Hành xả, Bất hại.
-
Căn bản phiền não, có sáu: Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác kiến.
Ác kiến lại chia làm năm: Thân kiến, Biên kiến, Tà kiến, Kiến thủ, Giới cấm thủ.
-
Tùy phiền não, có 20 món, chia làm ba loại:
- a) Tiểu tùy, có 10: Phẫn, Hận, Phú, Não, Tật, Xan, Cuồng, Xiểm, Hại, Kiêu.
- b) Trung tùy, có 2: Vô tàm, Vô quý.
- c) Đại tùy, có 8: Trạo cử, Hôn trầm, Bất tín, Giải đãi, Phóng dật, Thất niệm, Tán loạn, Bất chánh tri.
- Bất định, có bốn món: Hối, Miên, Tầm, Tư.
III. SẮC PHÁP, CÓ 11 MÓN
- Năm căn: Nhãn căn, Nhĩ căn, Tỷ căn, Thiệt căn và Thân căn.
- Sáu trần: Sắc trần, Thinh trần, Hương trần, Vị trần, Xúc trần và Pháp trần.
IV. TÂM BẤT TƯƠNG ƯNG HÀNH PHÁP, GỌI TẮT LÀ "BẤT TƯƠNG ƯNG HÀNH", CÓ 24 MÓN
Đắc, Mạng căn, Chúng đồng phận, Dị sanh tánh, Vô tưởng định, Diệt tận định, Vô tưởng báo, Danh thân, Cú thân, Văn thân, Sanh, Trụ, Lão, Vô thường, Lưu chuyển, Định dị, Tương ưng, Thế tốc, Thứ đệ, Thời, Phương, Số, Hòa hiệp tánh, Bất hòa hiệp tánh.
V. VÔ VI PHÁP, CÓ 6 MÓN
Hư không vô vi, Trạch diệt vô vi, Phi trạch diệt vô vi, Bất động diệt vô vi, Tưởng thọ diệt vô vi, Chơn như vô vi.
Nguyên văn chữ Hán
Nhất thế tối thắng cố
Dữ thử tương ưng cố
Nhị sở hiện ảnh cố
Tam vị sai biệt cố
Tứ sở hiển thị cố
Như thị thứ đệ.
Dịch nghĩa
Thứ lớp như vầy: Tâm vương hơn tất cả. Tâm vương cùng Tâm sở hợp nhau. Do hai món: Tâm vương và Tâm sở, mà hiện ra ảnh tượng là "sắc pháp". Do ba món: Tâm vương, Tâm sở và Sắc pháp, mà thành ra 24 món sai khác là "Bất tương ưng hành". Do bốn món: Tâm vương, Tâm sở, Sắc pháp, Bất tương ưng hành, đều thuộc về Pháp Hữu vi, nên hiện ra 6 Pháp Vô vi.
LƯỢC GIẢI
Tóm lại, ngoại nhân hỏi: "Cái gì là tất cả pháp?". Đại ý, Luận chủ trả lời: Các pháp tuy nhiều, nhưng ước lược chỉ có một trăm pháp, phân làm 5 loại: 1. Tâm vương có 8; 2. Tâm sở có 51; 3. Sắc pháp có 11; 4. Bất tương ưng hành có 24; 5. Vô vi pháp có 6. Trong 5 loại, lại chia làm hai: Bốn loại trên thuộc về Pháp Hữu vi, loại thứ 5 thuộc về pháp Vô vi.
Trên nguyên văn nói "tất cả pháp" tức là pháp Hữu vi và Vô vi vậy. Từ trước đến đây Luận chủ đã trả lời xong câu hỏi thứ nhất: "Cái gì là tất cả pháp".
Bài kệ tóm lại 100 pháp
Vì muốn cho học giả dễ nhớ, nên Cổ nhân có làm bài kệ bốn câu, tóm lại 100 pháp như vầy:
Sắc pháp thập nhất, tâm pháp bát,
Ngũ thập nhất cá tâm sở pháp
Nhị thập tứ chủng bất tương ưng,
Lục cá Vô vi thành bá pháp.
Dịch nghĩa:
Sắc pháp mười một, Tâm pháp tám,
Năm mươi mốt món Tâm sở pháp,
Hai mươi bốn món Bất tương ưng,
Sáu món Vô vi thành trăm pháp.
PHẦN THỨ HAI - THẾ NÀO LÀ VÔ NGÃ?
Luận chủ trả lời câu hỏi thứ hai: "Sao gọi là vô ngã?"
CHÁNH VĂN
Nói "vô ngã", lược có 2 món:
- Nhân vô ngã.
- Pháp vô ngã.
LƯỢC GIẢI
Chúng sinh chấp thân, tâm này thật là mình (ta), như thế là "Nhân ngã"; chấp núi, sông, đất, nước, tất cả sự vật bên ngoài là thật có, như thế là "Pháp ngã".
Vì "nhân" không thật có và "Pháp" cũng không thật có, nên Phật gọi rằng: "Tất cả Pháp vô ngã"; tức là "Nhân không thật" và "Pháp không thật" vậy.
Như thế là Luận chủ đã trả lời xong câu hỏi thứ hai: "Thế nào là vô ngã".