Bài học 3 / 70

Bài Thứ 2 - Luận Đại Thừa Trăm Pháp

Bài viết 32 min Cập nhật: 29 thg 6, 2026
🧭
Khám phá nhiều cách học!

Mỗi tab bên dưới là một cách tiếp cận bài học khác nhau — hãy thử nhiều cách để ghi nhớ sâu hơn.

Nội dung Bản đọc được trích dẫn nguyên văn từ sách. Các nội dung Video, Audio, Slideảnh minh họa được tạo bằng AI để hỗ trợ việc học.

Infographic - Đạo Phật

Khóa thứ 9: Luận Đại Thừa Trăm Pháp, Duy Thức và Nhơn Minh Luận

TẬP NHẤT

LUẬN ĐẠI THỪA TRĂM PHÁP VÀ BÁT THỨC QUY CỦ TỤNG

Ngài THIÊN THÂN Bồ Tát tạo luận

Ngài HUYỀN TRANG Pháp sư dịch chữ Phạn ra chữ Hán

Sa môn THÍCH THIỆN HOA dịch lại chữ Việt và lược giải.

BÀI THỨ HAI - LUẬN ĐẠI THỪA TRĂM PHÁP

Nguyên văn chữ Hán

Như Thế Tôn ngôn:

"Nhứt thế pháp vô ngã".

Hà đẳng nhứt thế pháp?

Vân hà vi vô ngã?

Dịch nghĩa

Như lời đức Thế Tôn nói:

"Tất cả Pháp không thật".

Vậy, cái gì là "tất cả Pháp"?

Và sao gọi là "không thật"?

Lược giải

Chữ "PHÁP" tức là tất cả sự vật từ tinh thần lẫn vật chất, nào Thánh Phàm chơn vọng, hữu tình vô tình, hữu hình vô hình, hữu vi vô vi, v.v... đều gọi là Pháp.

Dịch đúng theo văn Tàu: "Phàm cái gì, tự nó có thể giữ được hình dáng hay khuôn khổ của nó, làm cho người, khi trông đến nó, biết đó là vật gì, thì gọi là 'Pháp' (Nhậm trì tự tánh, quỷ sanh vật giải)."

Chữ "NGÃ" là Ta hay Tôi. Phàm nói "Ta" thì phải đủ hai điều kiện:

  • Tự tại hay tự chủ.
  • Có thể sắp đặt sai khiến mọi việc.

Như thế mới được gọi "Ta". Nhưng chữ "vô ngã" ở đây, nên hiểu nghĩa là "không thật" thì rõ hơn.

Phần thứ nhất, nói 100 pháp

Nguyên văn chữ Hán

Nhứt thế pháp giả, lược hữu ngũ chủng:

Nhứt giả Tâm pháp,

Nhị giả Tâm sở hữu pháp,

Tam giả Sắc pháp,

Tứ giả Tâm bất tương ưng hành pháp,

Ngũ giả Vô vi pháp.

Dịch nghĩa

Nói tất cả Pháp có năm món:

  1. Tâm pháp
  2. Tâm sở hữu pháp
  3. Sắc pháp
  4. Tâm bất tương ưng hành pháp
  5. Vô vi pháp

Lược giải

Chữ "TÂM" có nhiều nghĩa, nhưng tóm lại có 6 nghĩa:

Tập khởi: Chứa nhóm và phát khởi. Nghĩa này thuộc về thức thứ Tám (Tàng thức). Vì thức này có công năng "chứa nhóm" chủng tử của các pháp, rồi "phát khởi" ra hiện hành.

Tích tập: Chứa nhóm. Nghĩa này thuộc về bảy thức trước. Vì bảy thức trước có công năng "chứa nhóm" các pháp hiện hành để huân vào Tàng thức.

Trái lại, Bảy thức trước cũng có nghĩa "tập khởi" (chứa nhóm và phát khởi), vì bảy thức trước có công năng "chứa nhóm" các pháp hiện hành, để huân vào Tàng thức, "khởi thành" chủng tử.

Thức thứ Tám cũng có nghĩa "tích tập" (chứa nhóm), vì thức thứ Tám có công năng "chứa nhóm" chủng tử của các pháp vậy.

Duyên lự: Duyên cảnh, khởi phân biệt. Tám thức đều tự duyên cái cảnh tướng phần của mình, rồi khởi ra phân biệt (lự).

Thức: Hiểu biết phân biệt. Cả tám thức đều có công dụng hiểu biết phân biệt.

Ý: Sanh diệt tương tục không gián đoạn. Cả tám thức đều niệm niệm sanh diệt tương tục không gián đoạn.

Tâm, Ý và Thức: Vì y theo đặc tánh của mỗi thức, thì thức thứ Tám về nghĩa "Tích tập" thù thắng, nên gọi là "Tâm"; thức thứ Bảy về nghĩa "sanh diệt tương tục" thù thắng, nên gọi là "Ý" và sáu thức trước về nghĩa phân biệt thù thắng nên gọi là "Thức".

Chữ "TÂM PHÁP": Pháp thuộc về Tâm. Vì 8 món Tâm này có công năng thù thắng hơn hết; cũng như ông Vua có oai quyền thế lực, thống trị thiên hạ, cho nên cũng gọi là "Tâm vương".

Người học nên học thuộc lòng những danh từ sau đây

I. Ba cảnh
  • Tánh cảnh
  • Độc ảnh cảnh
  • Đới chất cảnh
II. Ba lượng
  • Hiện lượng
  • Tỷ lượng
  • Phi lượng
III. Ba tánh
  • Thiện tánh
  • Ác tánh
  • Vô ký tánh
IV. Ba thọ
  • Khổ thọ
  • Lạc thọ
  • Xả thọ
V. Năm thọ
  • Khổ thọ
  • Lạc thọ
  • Ưu thọ
  • Hỷ thọ
  • Xả thọ
VI. Tâm có bốn phần
  • Tướng phần
  • Kiến phần
  • Tự chứng phần
  • Chứng tự chứng phần
VII. 51 món Tâm sở, phân làm 6 vị
  • Biến hành, có 5
  • Biệt cảnh, có 5
  • Thiện, có 11
  • Căn bổn phiền não, có 6
  • Tùy phiền não, có 20
  • Bất định, có 4
VIII. Ba giới và chín địa

Dục giới:

  • Ngũ thú tạp cư địa.

Sắc giới:

  • Ly sanh hỷ lạc địa.
  • Định sanh hỷ lạc địa.
  • Ly hỷ diệu lạc địa.
  • Xả niệm thanh tịnh địa.

Vô sắc giới:

  • Không vô biên xứ địa.
  • Thức vô biên xứ địa.
  • Vô sở hữu xứ địa.
  • Phi tưởng phi phi tưởng xứ địa.
IX. Bồ Tát có hai

Hiền:

  • Tam hiền (Tư lượng vị): 1. Thập trụ, 2. Thập hạnh, 3. Thập hồi hướng.
  • Tứ gia hạnh vị: 1. Noãn, 2. Đảnh, 3. Nhẫn, 4. Thế đệ nhứt.

Thánh:

  • Hoan hỷ địa
  • Ly cấu địa
  • Phát quang địa
  • Diệm huệ địa
  • Nan thắng địa
  • Hiện tiền địa
  • Viễn hành địa
  • Bất động địa
  • Thiện huệ địa
  • Pháp vân địa
X. Tám thức và các duyên
  • Nhãn thức, có 9 duyên: 1. Hư không, 2. Ánh sáng, 3. Căn, 4. Cảnh, 5. Tác ý, 6. Phân biệt y, 7. Nhiễm tịnh y, 8. Căn bản y, 9. Chủng tử.
  • Nhĩ thức, có 8 duyên: Các duyên cũng đồng như Nhãn thức trên, chỉ trừ "ánh sáng".
  • Ba thức: Tỷ, Thiệt và Thân, lại còn có 7 duyên: Các duyên đồng như Nhãn thức trên, chỉ bớt 2 duyên là Hư không và Ánh sáng.
  • Ý thức, có 5 duyên: 1. Căn, 2. Cảnh, 3. Tác ý, 4. Căn bản y, 5. Chủng tử.
  • Mạt na thức, có 3 duyên: 1. Căn cảnh, 2. Tác ý, 3. Chủng tử.
  • A lại da thức, có 4 duyên: 1. Căn (Mạt na), 2. Cảnh (thân căn, khí giới và chủng tử), 3. Tác ý, 4. Chủng tử.
Bài tụng các duyên

Vì muốn dễ nhớ, nên Cổ nhân có bài tụng như sau:

Nhãn thức cửu duyên sanh

Nhĩ thức duy tùng bát

Tỷ, Thiệt, Thân tam, thất

Hậu tam; ngũ, tam, tứ

Dịch nghĩa

Nhãn thức đủ chín duyên

Nhĩ thức chỉ còn tám

Tỷ, Thiệt, Thân có bảy

Sau ba; năm, ba, bốn

Lược giải

Nhãn thức có đủ chín duyên; Nhĩ thức chỉ có 8 duyên; Tỷ, Thiệt và Thân ba thức này lại có 7 duyên; còn ba thức sau thì thức thứ 6 có 5 duyên, thức thứ 7 có 3 duyên và thức thứ 8 có 4 duyên. (Thức thứ 7 lấy kiến phần của A lại da thức làm cảnh; Thức thứ 8 lấy căn thân, khí giới và chủng tử làm cảnh).