Bài Thứ 10c - V. Vô vi pháp
Nội dung Bản đọc được trích dẫn nguyên văn từ sách. Các nội dung Video, Audio, Slide và ảnh minh họa được tạo bằng AI để hỗ trợ việc học.

Khóa thứ 9: Luận Đại Thừa Trăm Pháp, Duy Thức và Nhơn Minh Luận
TẬP NHẤT
LUẬN ĐẠI THỪA TRĂM PHÁP VÀ BÁT THỨC QUY CỦ TỤNG
BÀI THỨ 10c - V. VÔ VI PHÁP
V. Vô vi pháp (có 6 món)
Pháp Vô vi không sanh diệt, không biến đổi, không phải như các pháp hữu vi là Tâm vương, Tâm sở, Sắc pháp, Bất tương ưng hành có sanh diệt biến đổi. Do các pháp hữu vi (94 món) diệt rồi, thì pháp vô vi mới hiện bày (Tứ, sở hiển thị cố).
Thật ra, vô vi không phải có 6 pháp, song vì theo từng khía cạnh của nó để giải thích, nên đặt ra 6 tên.
Sáu tên gọi của Vô vi pháp
- Hư không vô vi
- Trạch diệt vô vi
- Phi trạch diệt vô vi
- Bất động diệt vô vi
- Thọ tưởng diệt vô vi
- Chơn như vô vi
Hư không vô vi
Chơn như hay Pháp tánh, không thể dùng ý thức suy nghĩ hay lời nói luận bàn được. Nó phi sắc, phi tâm, không sanh diệt, không cấu tịnh, không tăng giảm nên gọi là "Vô vi".
Bởi nó không ngã, không pháp, rời các cấu nhiễm, rỗng rang như hư không, nên gọi là "Hư không vô vi". Đây là theo thí dụ mà đặt tên.
Trạch diệt vô vi
Do dùng trí huệ Vô lậu, lựa chọn diệt trừ hết các nhiễm ô, nên chơn như vô vi mới hiện. Vì thế nên gọi là "Trạch diệt vô vi".
Phi trạch diệt vô vi
Vô vi không cần lựa chọn diệt trừ các phiền não. Có hai nghĩa:
- a) Tánh chơn như vốn thanh tịnh, không phải do lựa chọn diệt trừ các phiền não nhiễm ô mới có, nên gọi là "Phi trạch diệt".
- b) Các pháp hữu vi tạp nhiễm, vì thiếu duyên không sanh khởi, nên pháp vô vi được hiện. Bởi thế nên gọi "Phi trạch diệt".
Bất động diệt vô vi
Đệ tứ thiền đã lìa được ba định dưới, ra khỏi tam tai (đao binh tai, hỏa tai, thủy tai) không còn bị mừng, giận, thương, ghét... làm chao động nơi tâm, nên gọi là "Bất động diệt".
Thọ tưởng diệt vô vi
Khi được Diệt tận định, diệt trừ hết "thọ" và "tưởng" tâm sở nên gọi là "Thọ tưởng diệt vô vi".
Chơn như vô vi
Không phải Vọng, gọi là Chơn (không biến kế sở chấp); không phải điên đảo gọi là Như (không y tha khởi), tức là thật tánh của các pháp (Viên thành thật).
Hai câu hỏi được nêu ra trong luận
Trong luận Đại thừa trăm pháp này, ngoại nhơn hỏi hai câu:
- Tất cả pháp là gì?
- Thế nào là không thật (vô ngã)?
Từ trước đến đây, Luận chủ lược nói 100 pháp, để trả lời câu hỏi thứ nhất rồi, sau đây trả lời về câu hỏi thứ hai.
Phần thứ hai: Nói "không thật" (Vô ngã)
Chánh văn
Nói "không thật" (vô ngã), tóm có 2 loại:
- Nhơn (người) không thật.
- Pháp (vật) không thật.
Người đời chấp tất cả các pháp thật có, tức là chấp Ngã (Thật). Chấp Thật (Ngã) có hai:
- Nhơn (người) thật.
- Pháp (vật) thật.
Chấp thân này thật có, gọi là Nhơn thật. Chấp núi sông tất cả các cảnh vật bên ngoài thật có, gọi là Pháp thật.
Do chấp thật có (ngã) nên sanh ra tham, sân, si rồi tạo ra các nghiệp, sanh tử luân hồi trong lục đạo. Bởi thế nên Phật nói:
"Tất cả Pháp không thật".
Nói "Tất cả pháp" tức là bao trùm cả loài hữu tình và vô tình. Loài hữu tình không thật có là "Nhơn không thật". Loài vô tình như hoàn cảnh, sự vật không thật có, là "Pháp không thật".
Kết luận
Từ trước đến đây, lược nói 100 pháp thì đã bao trùm Nhơn và Pháp. Phàm phu chấp cả Nhơn và Pháp đều thật có. Tiểu thừa chỉ chấp Pháp là thật có.
Trong luận này nói: 8 món Tâm vương là tự thể của thức và hơn tất cả (nhứt thế tối thắng cố). 51 món tâm sở là phần sở hữu và tương ưng của thức (dữ thử tương ưng cố). 11 món sắc pháp là phần hình bóng, do Tâm vương và Tâm sở hiện ra (nhị sở hiện ảnh cố). 24 món Bất tương ưng hành là do ba phần: tâm vương, tâm sở và sắc pháp, phân chia ngôi thứ sai khác mà giả lập (tam, phận vị sai biệt cố). 6 món vô vi là do 4 món hữu vi trên (tâm vương, tâm sở, sắc pháp và bất tương ưng hành) diệt hết mà hiện bày ra, tức là thật tánh của thức (tứ, sở hiển thị cố).
Điểm kết thúc của toàn bài
Bởi thế nên biết: Người đời chấp "Nhơn thật có" và "Pháp thật có" đều không ngoài thức. Do đó mà đức Thế Tôn nói:
"Tất cả Pháp không thật" (Vô ngã).
"Muôn Pháp Duy thức".
Viết xong tại Phật Học Đường Nam Việt
Rằm tháng 6 năm Kỷ Hợi (1959)