Bài học 12 / 70

Bài Thứ 10b - IV. Tâm bất tương ưng hành pháp

Bài viết 30 min Cập nhật: 6 thg 7, 2026
🧭
Khám phá nhiều cách học!

Mỗi tab bên dưới là một cách tiếp cận bài học khác nhau — hãy thử nhiều cách để ghi nhớ sâu hơn.

Nội dung Bản đọc được trích dẫn nguyên văn từ sách. Các nội dung Video, Audio, Slideảnh minh họa được tạo bằng AI để hỗ trợ việc học.

Infographic - Đạo Phật

Khóa thứ 9: Luận Đại Thừa Trăm Pháp, Duy Thức và Nhơn Minh Luận

TẬP NHẤT

LUẬN ĐẠI THỪA TRĂM PHÁP VÀ BÁT THỨC QUY CỦ TỤNG

BÀI THỨ 10b - IV. TÂM BẤT TƯƠNG ƯNG HÀNH PHÁP (CÓ 24 MÓN)

Tổng quan về Tâm bất tương ưng hành

Tâm bất tương ưng hành pháp, gọi tắt là "Bất tương ưng hành". Chữ "Hành pháp" là những pháp thuộc về "Hành uẩn". Hành uẩn là một trong năm uẩn.

Chữ "Hành" là sanh diệt dời đổi; chữ "Uẩn" là chứa nhóm.

Hai loại Hành uẩn

  • Tương ưng hành uẩn: tức là các tâm sở (51 món). Chữ "Tương ưng" là ưng thuận với Tâm Vương.
  • Bất tương ưng hành uẩn: tức là 24 món "Bất tương ưng hành" sau đây; 24 món này không tương ưng với tâm, chúng chỉ y ba phần: Tâm Vương, tâm sở và sắc pháp mà giả thành lập (Tam, phận vị sai biệt cố).

Hai mươi bốn món Bất tương ưng hành

  1. Đắc
  2. Mạng căn
  3. Chánh đồng phận
  4. Dị sanh tánh
  5. Vô tưởng định
  6. Diệt tận định
  7. Vô tưởng báo
  8. Danh thân
  9. Cú thân
  10. Văn thân
  11. Sanh
  12. Trụ
  13. Lão
  14. Vô thường
  15. Lưu chuyển
  16. Định vị
  17. Tương ưng
  18. Thế tốc
  19. Thứ đệ
  20. Thời
  21. Phương
  22. Số
  23. Hòa hợp tánh
  24. Bất hòa hợp tánh

Nhóm giả lập trên ba phần

  • Đắc: Được, trái với mất. Thí như "Tôi được đồng xu", cố nhiên phải có đồng xu là "sắc pháp", và nhãn thức để thấy, ý thức để phân biệt là tâm pháp, cùng với các tâm sở chung khởi là tâm sở pháp; phải đủ cả ba phần như thế, mới thành nghĩa "được".
  • Mạng căn: Thân mạng. Do nghiệp đời trước kéo dẫn, làm cho thần thức thọ thân, sống trong một thời gian hoặc lâu hay mau, gọi là "mạng căn".
  • Chánh đồng phận: Cũng như chữ "đồng loại". Các loại chúng sanh hoặc hữu tình hay vô tình, loài nào đồng với loài nấy. Như loài người đồng với người; loài vật đồng với vật.
  • Dị sanh tánh: Những loài sanh ra khác với Thánh nhơn, tức là phàm phu; chỗ khác gọi "Phi đắc": Chúng phàm phu không được Thánh quả. Bởi thế nên gọi "Dị sanh tánh" hay "phi đắc" đều được cả.

Nhóm định và quả báo

  • Vô tưởng định: Định này diệt hết các tâm vương và tâm sở của 6 thức trước. Song đây chỉ gọi "Vô tưởng" là vì "tưởng" làm chủ động vậy.
  • Diệt tận định: Định này không những diệt hết các tâm vương và tâm sở của 6 thức trước, mà diệt luôn cả phần tạp nhiễm của tâm vương tâm sở về thức thứ Bảy.
  • Vô tưởng báo: Người ở cõi Dục tu Vô tưởng định, sau khi mạng chung, đặng báo thân ở cõi trời Vô tưởng.

Phân biệt hai loại định

Vô tưởng định là định của phàm phu; còn Diệt tận định là định của Thánh nhơn.

Điểm khác nhau là Diệt tận định diệt luôn cả phần tạp nhiễm nơi thức thứ Bảy, còn Vô tưởng định chỉ diệt các tâm vương và tâm sở của 6 thức trước.

Nhóm Danh thân, Cú thân, Văn thân

  • Danh thân: Tên hay danh từ. Có danh từ đơn và danh từ kép.
  • Cú thân: Câu. Do ráp nhiều tiếng thành câu; câu có ngắn và dài.
  • Văn thân: Chữ. Chữ là chỗ y chỉ của danh từ và câu.

Nhóm Sanh, Trụ, Lão, Vô thường

  • Sanh: Sanh ra. Nghĩa là từ hồi nào đến giờ không có, nay mới có.
  • Trụ: Ở. Những vật đã sanh ra rồi, còn lưu lại trong một thời gian, chưa diệt.
  • Lão: Già, suy yếu gần chết.
  • Vô thường: Không thường, biệt danh của chết.

Nhóm nhân quả và tương ưng

  • Lưu chuyển: Xoay vần, nhơn quả trước sau nối nhau không dứt.
  • Định vị: Nhơn quả lành, dữ khác nhau, không lộn lạo.
  • Tương ưng: Ưng thuận với nhau. Như nhơn nào quả nấy, cân xứng với nhau.

Hỏi đáp về món "Tương ưng"

Hỏi: Cả 24 món, đều gọi là "Bất tương ưng hành" tại sao món thứ 17 này lại gọi là "Tương ưng"?

Đáp: Nói "Bất tương ưng" là để phân biệt 24 món này, không phải là tương ưng tâm sở; còn về món thứ 17 này mà gọi là "Tương ưng", là do Sắc, Tâm và Tâm sở hòa hợp mà nói, nên không đồng với "Tương ưng tâm sở" trước.

Nhóm thế gian, thời-không và số lượng

  • Thế tốc: Các pháp hữu vi xoay vần mau lẹ như chong chóng.
  • Thứ đệ: Thứ lớp, trật tự không có lộn lạo.
  • Thời: Thời gian: quá khứ, hiện tại và vị lai.
  • Phương: Không gian: Đông, Tây, Nam, Bắc, tứ duy, thượng hạ.
  • Số: Số lượng. Như: một, hai, ba, bốn cho đến trăm, ngàn...
  • Hòa hợp tánh: Các duyên hòa hợp không có trái nhau.
  • Bất hòa hợp tánh: Những pháp chống trái, không hòa hợp với nhau.

Tổng kết hữu vi và vô vi

Nói tóm lại, từ trước đến đây đã kể 94 pháp: 8 món Tâm vương, 51 món Tâm sở, 11 món Sắc pháp, 24 món Bất tương ưng hành, đều thuộc về pháp hữu vi có sanh diệt biến đổi. Sáu pháp sau đây thuộc về vô vi.

  • Hữu vi: những gì có tạo tác, có sanh diệt, không thường còn.
  • Vô vi: những gì không tạo tác, không sanh diệt, không tăng giảm, vắng lặng thường còn.