Bài học 11 / 70

Bài Thứ 10 - III. Sắc pháp

Bài viết 29 min Cập nhật: 6 thg 7, 2026
🧭
Khám phá nhiều cách học!

Mỗi tab bên dưới là một cách tiếp cận bài học khác nhau — hãy thử nhiều cách để ghi nhớ sâu hơn.

Nội dung Bản đọc được trích dẫn nguyên văn từ sách. Các nội dung Video, Audio, Slideảnh minh họa được tạo bằng AI để hỗ trợ việc học.

Infographic - Đạo Phật

Khóa thứ 9: Luận Đại Thừa Trăm Pháp, Duy Thức và Nhơn Minh Luận

TẬP NHẤT

LUẬN ĐẠI THỪA TRĂM PHÁP VÀ BÁT THỨC QUY CỦ TỤNG

BÀI THỨ MƯỜI - III. SẮC PHÁP (CÓ 11 MÓN)

Tổng quan về Sắc pháp

Sắc pháp là thuộc về sắc, tức những cái thuộc về sắc. Sắc có hai loại: hình sắc như dài, ngắn, vuông, tròn và màu sắc như xanh, đỏ, trắng, vàng.

Sắc pháp gồm 11 món

  • 5 căn: Nhãn căn, Nhĩ căn, Tỷ căn, Thiệt căn, Thân căn.
  • 6 trần: Sắc trần, Thinh trần, Hương trần, Vị trần, Xúc trần, Pháp trần.

Sắc pháp là tướng phần ảnh tượng của Tâm Vương và Tâm sở, nên trong Duy thức nói: nhị sở hiện ảnh cố.

I. Năm căn

Chữ "Căn" có nghĩa là làm chỗ nương cho thức và phát sanh ra thức. Năm căn, căn nào cũng có hai thứ: một phần tinh tế ở bên trong gọi là Thắng nghĩa căn, và một phần thô phù ở bên ngoài gọi là Phù trần căn.

Nhãn căn

Nhãn căn là con mắt. Hình tướng của con mắt như trái nho. Nghiệp dụng của nó là chiếu soi các sắc.

Nhĩ căn

Nhĩ căn là lỗ tai. Hình tướng của tai như lá sen non. Nghiệp dụng của nó là hay nghe các tiếng.

Tỷ căn

Tỷ căn là lỗ mũi. Hình tướng của lỗ mũi như hai ngón tay xuôi xuống. Nghiệp dụng của nó là hay ngửi các mùi thơm và hôi.

Thiệt căn

Thiệt căn là cái lưỡi. Hình tướng của lưỡi như trăng lưỡi liềm. Nghiệp dụng của nó là nếm các vị và nói năng kêu gọi.

Thân căn

Thân căn là thân thể. Chữ "thân" có hai nghĩa: tích tụ các bộ phận và làm chỗ nương cho các căn. Nghiệp dụng của nó là duyên xúc trần, như nặng, nhẹ, trơn, nhám.

II. Sáu trần

Chữ "trần" có nghĩa là nhiễm ô và bụi bặm. Sáu trần là sáu cảnh bị sáu căn duyên đến, từ cảnh bị thấy cho đến cái bóng dáng còn lưu lại trong ý thức.

Sắc trần

Sắc trần là cảnh bị thấy của con mắt. Sắc trần có 25 món:

  1. Xanh
  2. Vàng
  3. Đỏ
  4. Trắng
  5. Dài
  6. Ngắn
  7. Vuông
  8. Tròn
  9. To
  10. Nhỏ
  11. Cao
  12. Thấp
  13. Ngay
  14. Xiên
  15. Ánh sáng
  16. Bóng
  17. Sáng
  18. Tối
  19. Khói
  20. Bụi
  21. Mây
  22. Cực lược sắc (sắc rất nhỏ) và cực quýnh sắc (sắc rất xa)
  23. Biểu sắc (sắc có nêu ra được)
  24. Sắc hư không

Thinh trần

Thinh trần là tiếng, cảnh bị nghe của tai. Có 12 loại tiếng:

  1. Tiếng: cái tướng bị nghe của tai, nói chung là các tiếng.
  2. Tiếng vừa ý.
  3. Tiếng không vừa ý.
  4. Tiếng bình thường, không ưa ghét.
  5. Tiếng loài hữu tình, như tiếng nói.
  6. Tiếng loài vô tình, như tiếng cây cối.
  7. Tiếng thuộc cả hữu tình và vô tình, như tiếng trống do tay người ta đánh.
  8. Tiếng thuộc về thế tục nói.
  9. Tiếng thuộc về của Thánh giả.
  10. Tiếng của ngoại đạo nói, do Biến kế sở chấp.
  11. Tiếng nói chánh (Thánh ngôn): như thật có thấy, nghe, hay, biết thì nói có thấy, nghe, hay và biết; không thấy, nghe, hay, biết thì nói không thấy, nghe, hay, biết; như thế gọi là 8 lời nói chánh.
  12. Tiếng vang.

Hương trần

Hương trần là mùi, cảnh bị ngửi của mũi. Có 6 thứ mùi:

  1. Mùi thơm.
  2. Mùi hôi.
  3. Mùi không thơm hôi.
  4. Mùi từ bản chất sanh (câu sanh hương).
  5. Mùi do chế tạo mà có (hòa hiệp hương).
  6. Mùi do sự biến đổi mà sanh.

Vị trần

Vị trần là vị, cảnh bị nếm của lưỡi. Có 12 thứ vị:

  1. Vị đắng.
  2. Vị chua.
  3. Vị ngọt.
  4. Vị cay.
  5. Vị mặn.
  6. Vị lạt.
  7. Vị vừa ý.
  8. Vị không vừa ý.
  9. Vị bình thường.
  10. Vị từ bản chất sanh.
  11. Vị do hòa hiệp chế tạo mà có.
  12. Vị do biến đổi mà sanh.

Xúc trần

Xúc trần là xúc, cảnh bị biết của thân. Xúc trần có 26 món:

  1. Đất.
  2. Nước.
  3. Gió.
  4. Lửa.
  5. Nhẹ.
  6. Nặng.
  7. Nhám.
  8. Trơn.
  9. Hoãn.
  10. Gấp.
  11. Lạnh.
  12. Nóng.
  13. Cứng.
  14. Mềm.
  15. Đói.
  16. Khát.
  17. No.
  18. Sức lực.
  19. Yếu.
  20. Buồn.
  21. Ngứa.
  22. Dính.
  23. Già.
  24. Bệnh.
  25. Chết.
  26. Ốm.

Pháp trần

Pháp trần là cái bóng dáng của năm trần còn lưu lại trong ý thức. Nghĩa là khi mắt không còn thấy sắc, tai không còn nghe tiếng, cho đến thân không còn biết xúc mà trong ý thức vẫn nhớ lại bóng dáng của năm trần; cái bóng dáng đó là pháp trần. Trong Duy thức gọi là lạc tạ ảnh tử, tức cái bóng rớt lại.

Đây là cảnh bị biết của ý thức. Pháp trần có 5 loại:

  • Cực lược sắc: Sắc rất nhỏ như vi trần.
  • Cực quýnh sắc: Sắc rất xa, như thấy tăm tăm mù mù.
  • Định quả sắc: Những sắc tướng do tu định hiện ra, như các vị Bồ Tát khi nhập định hiện ra nước, lửa, thế giới.
  • Vô biểu sắc: Sắc không nêu bày ra được; như khi thọ giới, ý thức lãnh thọ mà có, nên cũng gọi là thọ sở dẫn sắc.
  • Biến kế sở chấp sắc: Sắc do ý thức vọng tưởng phân biệt sanh, chẳng thật.