Bài Thứ 2 - Duy Thức Tam Thập Tụng Dị Giải
Nội dung Bản đọc được trích dẫn nguyên văn từ sách. Các nội dung Video, Audio, Slide và ảnh minh họa được tạo bằng AI để hỗ trợ việc học.

Khóa thứ 9: Luận Đại Thừa Trăm Pháp, Duy Thức và Nhơn Minh Luận
TẬP BA
DUY THỨC TAM THẬP TỤNG DỊ GIẢI
BÀI THỨ HAI - DUY THỨC TAM THẬP TỤNG DỊ GIẢI
Giải về thức Năng biến thứ nhứt: A lại da thức, Dị thục thức và Nhứt thế chủng thức.
CHÁNH VĂN
Hỏi: Trên đã lược nói cái "tên", nhưng chưa nói rõ cái "tướng" của thức Năng biến; vậy cái "tướng" của thức Năng biến thứ nhứt thế nào?
Nguyên văn chữ Hán
Tụng viết:
Sơ A lại da thức
Dị thục, Nhứt thế chủng.
Dịch nghĩa
Luận chủ nói tụng để trả lời rằng: Thức Năng biến thứ nhứt tên là A lại da, cũng gọi là Dị thục thức hay Nhứt thế chủng thức.
LƯỢC GIẢI
Thức Năng biến thứ nhất có ba tướng:
I. Tự tướng: A lại da, nghĩa là Tàng
Tự tướng là cái thể. Tiếng Phạn gọi là "A lại da", Tàu dịch là "Tàng". Chữ Tàng có ba nghĩa:
- Năng tàng: Thức này có công năng chứa tất cả chủng tử (hạt giống) của các Pháp thiện ác; cũng như cái kho có công năng chứa lúa.
- Sở tàng: Thức này có chỗ để chứa chủng tử của các Pháp; cũng như cái kho là chỗ để chứa lúa.
- Ngã ái chấp tàng: Thức này thường bị thức thứ Bảy ái luyến chấp làm ngã. Nó như người giữ kho, giữ gìn chẳng cho lúa mất.
II. Quả tướng: Dị thục thức
Quả tướng gọi là "Dị thục thức". Chữ Dị thục có ba nghĩa:
- Dị thời nhi thục: Khác thời mà chín. Dụ như trái xoài, từ khi sanh cho đến khi chín, thời gian khác nhau.
- Dị loại nhi thục: Khác loài mà chín. Dụ như trái xoài, khi nhỏ tánh chua, đến chín lại ngọt.
- Biến dị nhi thục: Biến đổi khác chất mà chín. Dụ như trái xoài, khi nhỏ thì xanh, đến khi già chín biến đổi lại vàng.
Vì thức Dị thục này lãnh thọ thân quả báo, nên gọi là Dị thục quả. Tánh chất của Dị thục quả là vô ký (không nhứt định thiện hay ác); song về nghiệp nhơn đời trước của nó, lại có thiện và ác.
Bởi lấy nghiệp nhơn (thiện ác) đối với quả (vô ký) mà nói, nên có ba nghĩa: khác thời gian chín, khác loại mà chín và biến đổi chín.
Dị thục
- Dị thời nhi thục
- Dị loại nhi thục
- Biến dị nhi thục
Nhơn thuộc thiện, ác; quả thuộc vô ký.
III. Nhơn tướng: Nhứt thế chủng thức
Nhơn tướng gọi là Nhứt thế chủng thức. Tất cả các pháp hiện tượng (hiện hành) trong thế gian và xuất thế gian, đều có chủng tử (công năng tiềm tàng) của nó. Các chủng tử này đều chứa trong thức thứ Tám (tàng thức).
Các chủng tử là "nhơn" khởi hiện ra các Pháp là "quả". Vì theo "nhơn tướng" (chủng tử), nên gọi thức này là "Nhứt thế chủng".
BẤT KHẢ TRI CHẤP THỌ
Nguyên văn chữ Hán
Bất khả tri chấp thọ
Xứ liễu thường dữ xúc
Tác ý thọ tưởng tư
Tương ưng duy xả thọ
Dịch nghĩa
Không thể biết hành tướng năng duyên và công năng giữ gìn chủng tử, lãnh thọ thân thể và thế giới của thức này được. Thức này thường tương ưng với năm món biến hành là: xúc, tác ý, thọ, tưởng và tư. Song trong các thọ, nó chỉ tương ưng với xả thọ.
Lược giải
Hành tướng thức Năng biến thứ nhứt rất là tế nhị. Bởi người đời tâm thô không thể biết được, nên nói "Bất khả tri".
Những việc của thức này mà người đời không thể biết được, có hai phần:
- Thức này giữ gìn chủng tử, thế giới, thân thể và làm cho thân thể sanh ra cảm giác, lãnh thọ; nghĩa là thức thứ Tám này biến hiện ra thế giới và chúng sanh rồi giữ gìn không cho mất. Đây là điều khó biết thứ nhứt.
- Hành tướng năng duyên (liễu) của thức này rất sâu xa và tế nhị. Đây là điều khó biết thứ hai.
Không thể biết duyên của thức này
- Kiến phần năng duyên: phần liễu biệt rất sâu xa, tế nhị.
- Tướng phần bị duyên: gồm chủng tử, thân thể (chấp thọ) và thế giới (xứ).
Tâm vương và Tâm sở
Tám thức, phân làm ba món năng biến, đều có quyền tự chủ, tự tại; cũng như vị Quốc Vương, nên gọi là Tâm vương. Song như vị Quốc vương phải có quần thần phụ tá, thì mới có thể giữ nước trị dân. Tâm vương cũng phải có bộ hạ tuỳ tùng để giúp đỡ mới hay tạo ra các nghiệp.
Những bộ hạ tuỳ tùng ấy lệ thuộc Tâm vương, không được tự tại, nên gọi "Tâm sở", hoặc gọi là "Tâm sở hữu"; nghĩa là cái sở hữu của Tâm vương.
Lại nữa, Tâm sở đã giúp Tâm vương tạo nghiệp, thì Tâm vương với Tâm sở phải ưng thuận với nhau nên gọi là tương ưng.
Năm Tâm sở Biến hành tương ưng với thức này
Hỏi: Có mấy Tâm sở tương ưng với thức này?
Đáp: Chỉ có năm món biến hành thường tương ưng với thức này là: Xúc, Tác ý, Thọ, Tưởng và Tư.
Xúc
Xúc là tiếp xúc. Như con mắt xem hoa, khi mới vừa tiếp xúc với hoa; đó là tác dụng của Xúc Tâm sở. Thí như hai người đồng đi một con đường; một người đi từ phương Đông đến phương Tây, một người đi từ phương Tây đến phương Đông; hai người gặp nhau một chỗ, gọi đó là xúc.
Một thí dụ nữa, như môn Kỷ hà học: trên cái hình tròn gạch qua một đường, chỗ đụng nhau một chỗ trên đường gạch, đó là xúc.
Tác ý
Tác ý là móng khởi cái ý. Như khi muốn xem hoa, trước nhứt móng khởi cái ý; đó là "Tác ý Tâm sở". Rồi nó dẫn dắt nhãn thức xem hoa. Nếu không có tác dụng của Tâm sở này, thì dù có gặp hoa cũng không thấy.
Người đời có khi đi ngang qua vườn đầy hoa, mà không thấy hoa. Như thế là vì trong lúc đó, Tâm sở tác ý không có tương ưng với nhãn thức.
Thọ
Thọ là lãnh thọ. Như khi thấy hoa, có sự cảm thọ vui buồn.
Tưởng
Tưởng là tưởng tượng. Như sau khi thấy hoa, rồi tưởng tượng hình tướng của hoa đỏ hay vàng, tốt hay xấu.
Tư
Tư là lo nghĩ, tạo tác. Như nhơn thấy hoa, rồi lo nghĩ trồng hoa hay bẻ hoa.
Ba loại Thọ Tâm sở
Lại nữa, "Thọ Tâm sở" có 3 loại:
- Lạc thọ: Thọ vui. Khi gặp cảnh thuận, như được người khen ngợi, thì cảm thọ vui mừng.
- Khổ thọ: Thọ khổ. Khi gặp cảnh nghịch, như bị người huỷ báng hạ nhục, thì cảm thọ buồn khổ.
- Xả thọ: Thọ cảnh không vui buồn. Khi gặp cảnh bình thường không thuận nghịch, như trong lúc không được khen hay bị chê, thì cảm thọ không vui buồn.
Tóm lại, thức thứ Tám này tương ưng với 5 món Tâm sở Biến hành và hành tướng của nó rất là tế nhị, không có hiện ra khổ và vui, nên chỉ tương ưng với xả thọ.
VÔ PHÚ VÔ KÝ
Nguyên văn chữ Hán
Thị vô phú vô ký
Xúc đẳng diệc như thị
Dịch nghĩa
Tánh của thức này là vô phú vô ký, nên những Tâm sở tương ưng với nó, như Xúc, Tác ý... cũng vô phú vô ký.
Lược giải
Tánh của các pháp, tóm lại có 3 loại: tánh thiện, tánh ác và tánh vô ký (không thiện không ác).
Tánh vô ký lại chia làm 2 loại: Vô phú vô ký và Hữu phú vô ký. Thí như mặt gương, không phải thiện ác, dụ cho "tánh vô ký"; khi bị bụi che lấp ánh sáng, dụ cho "tánh hữu phú vô ký". Đến lúc lau chùi sạch bụi, dụ cho "tánh vô phú vô ký".
Tóm lại, thức thứ Tám này không bị các phiền não ngăn che, nên thuộc về tánh vô phú vô ký. Và những Tâm sở tương ưng với thức này, như Xúc, Tác ý... cũng thuộc về tánh vô phú vô ký.
HẰNG CHUYỂN NHƯ BỘC LƯU
Nguyên văn chữ Hán
Hằng chuyển như bộc lưu
Dịch nghĩa
Hằng chuyển biến như dòng nước chảy mạnh.
Lược giải
Ngoại đạo chấp các pháp thường còn không mất, như thế gọi là chấp "thường"; hoặc chấp chết rồi mất hẳn, như thế gọi là chấp "đoạn".
Nhà Duy thức nói: từ vô thỉ đến nay, thức này hằng chuyển biến luôn, mỗi niệm sanh diệt tương tục không gián đoạn. Cũng như nước thác, từ trên núi cao đổ xuống, một dãy trắng xoá; ở xa trông như tấm vải trắng.
Vì nó hằng chảy luôn, nên chẳng phải "đoạn diệt". Song nó liên kết tiếp tục nhiều giọt, biến chuyển sanh diệt luôn, nên không phải "thường nhứt".
A LA HÁN VỊ XẢ
Nguyên văn chữ Hán
A la hán vị xả
Dịch nghĩa
Đến vị A la hán mới xả bỏ thức này (tàng thức).
Lược giải
Hỏi: Thức này, đã sanh diệt tương tục, là gốc của sanh tử luân hồi, vậy phải tu đến địa vị nào mới xả bỏ nó được?
Đáp: Người tu hành đoạn hết phiền não chướng, đến quả vị A la hán, mới xả bỏ được thức "A lại da". Song chỉ xả bỏ cái "danh", chớ không phải xả bỏ cái "thể" của thức này.
Hỏi: Tại sao không xả bỏ cái "thể" của thức này?
Đáp: Cái "thể" của thức này có hai phần: nhiễm và tịnh. Phần tịnh tức là "Trí". Trong bài tụng nói "xả bỏ thức này", tức là chuyển thức thành trí, chớ không phải xả bỏ. Nếu xả bỏ cái "thể" của thức này, thì thành ra đoạn diệt, thuộc về ngoại đạo. Trong Đạo Phật không có chủ trương đoạn diệt (mất hẳn).