Bài học 20 / 70

Bài Thứ 3 - Duy Thức Tam Thập Tụng Dị Giải

Bài viết 33 min Cập nhật: 7 thg 7, 2026
🧭
Khám phá nhiều cách học!

Mỗi tab bên dưới là một cách tiếp cận bài học khác nhau — hãy thử nhiều cách để ghi nhớ sâu hơn.

Nội dung Bản đọc được trích dẫn nguyên văn từ sách. Các nội dung Video, Audio, Slideảnh minh họa được tạo bằng AI để hỗ trợ việc học.

Infographic - Đạo Phật

Khóa thứ 9: Luận Đại Thừa Trăm Pháp, Duy Thức và Nhơn Minh Luận

TẬP BA

DUY THỨC TAM THẬP TỤNG DỊ GIẢI

BÀI THỨ BA - DUY THỨC TAM THẬP TỤNG DỊ GIẢI

Giải về thức Năng biến thứ hai: Mạt na thức, và mở qua thức Năng biến thứ ba là sáu thức trước.

CHÁNH VĂN: THỨC NĂNG BIẾN THỨ HAI

Hỏi: Trên đã nói thức năng biến thứ nhứt, còn thức năng biến thứ hai thế nào?

Nguyên văn chữ Hán

Đáp: Tụng viết:

Thứ đệ nhị năng biến

Thị thức danh Mạt na

Y bỉ chuyển, duyên bỉ

Tư lương vi tánh tướng.

Dịch nghĩa

Luận chủ nói tụng để trả lời rằng: Thức năng biến thứ hai tên là Mạt na. Thức này do thức A lại da sanh ra, rồi trở lại duyên thức A lại da chấp làm ngã. Tánh và tướng của nó thường lo nghĩ.

Lược giải

Trước đã nói thức Năng biến thứ nhứt, tiếp theo đây nói thức Năng biến thứ hai, tức là thức thứ Bảy. Tiếng Phạn gọi là Mạt na, Tàu dịch là Ý. Thức này là "Căn" của ý thức, chứ không phải ý thức thứ Sáu.

Thức này nương thức A lại da sanh khởi, rồi trở lại duyên thức A lại da chấp làm ngã. Cũng như cái tay từ nơi thân sanh ra, rồi trở lại hộ vệ cái thân. Vì thức này tánh hay lo nghĩ, nên hiện ra tướng trạng bên ngoài cũng lo nghĩ.

Thức Mạt na trong ba ý chính

  • Vị trí: thức thứ Bảy, tức thức Năng biến thứ hai.
  • Chỗ nương: nương thức A lại da mà sanh khởi.
  • Tác dụng: duyên lại thức A lại da rồi chấp làm ngã.

BỐN MÓN PHIỀN NÃO THƯỜNG CÂU

Nguyên văn chữ Hán

Tứ phiền não thường câu

Vị: ngã si, ngã kiến

Tịnh ngã mạn, ngã ái

Cập dư xúc đẳng câu.

Dịch nghĩa

Bốn món phiền não thường chung cùng với thức này là: Ngã si, Ngã kiến, Ngã mạn, Ngã ái. Ngoài ra thức này còn tương ưng với các Tâm sở như: Xúc, Tác ý, v.v...

Lược giải

Những Tâm sở thường tương ưng với thức này, là bốn món phiền não: Ngã si, Ngã kiến, Ngã mạn và Ngã ái.

  1. Ngã si: si mê cái Ngã.
  2. Ngã kiến: chấp cái Ngã.
  3. Ngã mạn: đề cao cái Ngã của mình để khinh mạn người.
  4. Ngã ái: tham ái cái Ngã.

Bởi thức Mạt na thường chấp thức A lại da làm Ngã, nên bốn món phiền não tương ưng với thức này cũng đều do cái Ngã mà sanh. Vì thế trên mỗi món phiền não lại thêm chữ Ngã.

Ngoài bốn món phiền não trên, lại còn có các Tâm sở, như năm món Biến hành và tuỳ phiền não, cũng tương ưng với thức này; nhưng không phải thường có như bốn món phiền não trên.

Các Tâm sở tương ưng với thức này

  • Thường chung khởi: Si, Kiến, Mạn, Ái.
  • Không thường chung khởi: năm món Biến hành, Tuỳ phiền não, v.v...

HỮU PHÚ VÔ KÝ

Nguyên văn chữ Hán

Hữu phú vô ký nhiếp

Tuỳ sở sanh sở hệ

A la hán, Diệt định

Xuất thế đạo vô hữu

Dịch nghĩa

Tánh của thức này là "hữu phú vô ký". Tuỳ thức A lại da sanh về cảnh giới nào, thì thức này theo đó mà chấp Ngã. Khi chứng A la hán, nhập Diệt tận định và được vào Đạo xuất thế, thì không còn thức này.

Lược giải

Vì bốn món phiền não ngăn che, nên tánh của thức Mạt na thuộc về hữu phú vô ký. Lại nữa, vì thức này do thức A lại da sanh ra, nên tuỳ theo thức A lại da sanh về cõi nào, thì nó theo chấp ngã ở cõi đó.

Hỏi: Người tu hành phải đến địa vị nào mới đoạn được Ngã chấp và không còn thức Mạt na?

Đáp: Có ba địa vị:

  1. Đến địa vị A la hán: vì vị này đã xả tàng thức, nên thức Mạt na không còn chấp Ngã.
  2. Nhập Diệt tận định: vì định này diệt hết các Tâm vương và Tâm sở của bảy thức trước.
  3. Đạo xuất thế: hành giả khi đặng cái trí hiểu biết chơn vô ngã và đặng trí vô lậu hậu đắc, thì không còn thức Mạt na.

Ba địa vị không có Mạt na tạp nhiễm

  • A la hán: xả Tàng thức, không còn Mạt na chấp Ngã.
  • Diệt tận định: diệt hết Tâm vương, Tâm sở của sáu thức trước và diệt các Tâm sở về phần tạp nhiễm của thức Mạt na.
  • Đạo xuất thế: được trí hiểu biết chơn vô ngã, đặng trí vô lậu hậu đắc.

CHÁNH VĂN: THỨC NĂNG BIẾN THỨ BA

Hỏi: Như vậy đã nói thức năng biến thứ hai, còn thức năng biến thứ ba thế nào?

Nguyên văn chữ Hán

Đáp: Tụng viết:

Thứ đệ tam năng biến

Sai biệt hữu lục chủng

Liễu cảnh vi tánh tướng

Thiện, bất thiện, câu phi.

Dịch nghĩa

Luận chủ nói tụng để trả lời rằng: Thức năng biến thứ ba có sáu món sai khác. Tánh và tướng của thức này đều phân biệt cảnh (liễu cảnh). Thức này đủ cả ba tánh: thiện, ác và vô ký.

Lược giải

Thức năng biến thứ ba có sáu món: Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỹ thức, Thiệt thức, Thân thức và Ý thức.

Trong tám thức, thức nào cũng đều phân biệt cảnh; song thức thứ Bảy và thức thứ Tám chỉ phân biệt cảnh tế, còn sáu thức trước lại phân biệt cảnh thô. Vì vậy trong bài tụng nói: tánh tướng nó đều phân biệt cảnh.

Cũng như mặt trời mặt trăng sáng suốt chiếu soi khắp thiên hạ. Mặt trời mặt trăng sáng suốt là dụ cho bản tánh của thức này; còn chiếu soi là dụ cho tướng dụng của thức này.

Sáu thức này đủ cả ba tánh: thiện, ác và vô ký.

Sáu thức trước

  1. Nhãn thức
  2. Nhĩ thức
  3. Tỹ thức
  4. Thiệt thức
  5. Thân thức
  6. Ý thức

TÂM SỞ TƯƠNG ƯNG VỚI SÁU THỨC

Nguyên văn chữ Hán

Thử Tâm sở biến hành

Biệt cảnh, thiện, phiền não

Tuỳ phiền não bất định

Giai tam thọ tương ưng

Dịch nghĩa

Những Tâm sở tương ưng với thức này gồm: Biến hành, Biệt cảnh, Thiện, Căn bản phiền não, Tuỳ phiền não, Bất định và ba thọ.

Lược giải

Tâm sở do Tâm vương đặt để, cũng như các quan do vua sắp đặt, như một vị quan lớn có bao nhiêu nhơn viên. Tâm sở cũng thế, tất cả 51 món phân làm sáu loại.

Nay xin liệt kê sau đây:

  • Biến hành: có 5 món.
  • Biệt cảnh: có 5 món.
  • Thiện: có 11 món.
  • Căn bản phiền não: có 6 món.
  • Tuỳ phiền não: có 20 món.
  • Bất định: có 4 món.

Ba thọ là: khổ thọ, lạc thọ và xả thọ. Tóm lại, thức này tương ưng với 51 món Tâm sở và ba thọ.