Bài học 30 / 70

C. Dụ

Bài viết 35 min Cập nhật: 19 thg 7, 2026
🧭
Khám phá nhiều cách học!

Mỗi tab bên dưới là một cách tiếp cận bài học khác nhau — hãy thử nhiều cách để ghi nhớ sâu hơn.

Nội dung Bản đọc được trích dẫn nguyên văn từ sách. Các nội dung Video, Audio, Slideảnh minh họa được tạo bằng AI để hỗ trợ việc học.

Infographic - Đạo Phật

Khóa thứ 9: Luận Đại Thừa Trăm Pháp, Duy Thức và Nhơn Minh Luận

NHƠN MINH LUẬN

C. DỤ

Phàm lấy một vật gì mà bên đối phương đã biết và đã công nhận, để so sánh chứng minh với một vật khác mà bên đối phương kia chưa biết, hoặc chưa công nhận thì gọi là "Dụ".

Thí dụ khi lập cái "Tôn thường còn", thì phải lấy tất cả những vật "thường còn" làm Đồng dụ; trái lại, phải lấy tất cả những vật "vô thường" làm Dị dụ.

Về Tợ dụ có 10, chia làm 2 loại:

I. Tợ Đồng dụ có 5

1. Năng lập pháp bất thành

Phàm cái Nhơn là để thành lập cái Tôn, nên cái Nhơn là "Năng lập pháp" còn cái Tôn là "Sở lập pháp". Cái Dụ này trái ngược Nhơn, nên bị lỗi "bất thành".

Biểu lập

TônCon ngựa chạy hay.
NhơnVì có bốn vó.
Đồng dụNhư con rắn hổ ngựa.

Cái Dụ này hiệp với Tôn (chạy hay), trái với Nhơn (thiếu chân).

2. Sở lập pháp bất thành

Nhơn là Năng lập mà Tôn là Sở lập (bị lập). Cái dụ này trái ngược với Tôn, nên cũng bị lỗi "bất thành".

Biểu lập

TônNgười ta không bay được.
NhơnVì thiếu hai cánh.
Đồng dụNhư mây (không cánh, bay được).

Cái Dụ này hiệp với Nhơn (thiếu cánh) và trái với Tôn (không bay).

3. Câu bất thành

Cái Dụ này trái ngược với Tôn và Nhơn. Bởi lấy Dị dụ làm Đồng dụ, nên bị lỗi "bất thành".

Biểu lập

TônTiếng thường còn.
NhơnVì tai nghe vậy.
Đồng dụNhư bàn, ghế.

Bàn, ghế "vô thường" nên trái với Tôn, và "tai không nghe được", nên trái với Nhơn.

4. Vô hiệp

Cái Dụ này không có lời phối hiệp để kết thúc lại cho dễ hiểu.

Biểu lập

TônNgười ta phải chết.
NhơnVì có sanh vậy.
Đồng dụNhư chim v.v...

Đáng lẽ phải nói lời phối hiệp để kết thúc lại như vầy: "Người ta có sanh (Nhơn) phải có chết (Tôn). Phàm vật gì có sanh (Nhơn) phải có chết (Tôn), như chim v.v..." thời người ta mới dễ hiểu. Cái này chỉ nói tắt rằng "như chim"; làm cho người ta không hiểu: Như chim có hai cánh, hay là như chim có mỏ? nên bị lỗi "vô hiệp".

5. Đảo hiệp

Lời thí dụ, kết thúc phối hiệp lại trái ngược. Phàm kết thúc phối hiệp thì phải nói cái Nhơn trước rồi nói cái Tôn sau.

Biểu lập (phối hiệp đúng)

TônNgười ta phải chết.
NhơnVì có sanh vậy.
Đồng dụPhàm vật gì có sanh (Nhơn) thì phải có chết (Tôn) như chim v.v...

Nay kết thúc lại trái ngược, nghĩa là: Phối hiệp Tôn trước rồi Nhơn sau.

Biểu lập (phối hiệp sai - Đảo hiệp)

TônNgười ta phải chết.
NhơnVì có sanh vậy.
Đồng dụPhàm có chết (Tôn) phải có sanh (Nhơn) như chim v.v...

Bởi vì nói "có sanh phải có chết" thì ai cũng thấy; còn nói "có chết phải có sanh", người ta khó nhận.

II. Tợ Dị dụ có 5

Phàm Dị dụ là dụ bề trái của Tôn và Nhơn, nên phải hoàn toàn trái ngược với Tôn và Nhơn.

1. Sở lập pháp bất khiển - Cái Dị dụ này không trái với Tôn

Biểu lập

TônTiếng nói thường còn.
NhơnVì vô hình vậy.
Đồng dụNhư hư không.
Dị dụNhư vi trần (vi trần hữu hình và thường còn).

Vi trần có hình chất mà lại thường còn. Nếu lấy vi trần làm Dị dụ, thì chỉ trái với Nhơn (vô hình) mà không trái với Tôn (thường) nên bị lỗi.

2. Năng lập pháp bất khiển - Cái Dị dụ này không trái với Nhơn

Biểu lập

TônTiếng nói thường còn.
NhơnVì vô hình vậy.
Đồng dụNhư hư không.
Dị dụNhư điện chớp (vô hình, không thường).

Lấy điện chớp làm Dị dụ, thì chỉ trái với "Tôn thường còn", mà không trái với "Nhơn vô hình", nên bị lỗi.

3. Câu bất khiển - Cái Dị dụ không trái với Tôn và Nhơn. Lỗi này vì lấy Đồng dụ làm Dị dụ

Biểu lập

TônNgười phải chết.
NhơnVì có sanh vậy.
Đồng dụNhư cỏ cây.
Dị dụNhư loài vật.

Phàm Dị dụ là phải trái với Tôn và Nhơn. Nay dùng cái Dị dụ này không trái với Tôn và Nhơn nên bị lỗi.

4. Bất ly - Dị dụ không có lời kết thúc để ly biệt Tôn và Nhơn

Biểu lập

TônTiếng nói thường còn.
NhơnVì không hình chất.
Đồng dụNhững gì vô hình đều thường còn, như hư không.
Dị dụNhư bàn ghế.

Về Dị dụ, đáng lẽ cũng phải có lời phối hiệp kết thúc để ly biệt Tôn và Nhơn như vậy: "Phàm những gì vô thường, thì đều có hình chất, như bàn ghế". Nay chỉ nói tắt rằng: "Như bàn ghế" làm cho người ta không hiểu: Như bàn ghế có bốn chân? Hay như bàn ghế có mặt?

Phải lưu ý: Về Đồng dụ, nếu thiếu lời phối hiệp để kết thúc, thì gọi là "Vô hiệp"; còn bên Dị dụ, nếu thiếu lời phối hiệp để kết thúc, thì gọi là "bất ly".

5. Đảo ly - Lời kết thúc của Dị dụ, để ly biệt Tôn và Nhơn, lại phối hiệp một cách trái ngược

Biểu lập

TônTiếng thường còn.
NhơnVì vô chất ngại.
Đồng dụNhư hư không.
Dị dụNhững gì có chất ngại (Nhơn) đều vô thường (Tôn) như bình, bàn v.v...

Phàm lời phối hiệp để kết thúc của Dị dụ là phải nói Tôn trước rồi Nhơn sau, mới thuận. Như nói: "Những gì vô thường (Tôn) thì đều có chất ngại (Nhơn) như bình, bàn v.v..." Nay phối hiệp ngược lại Nhơn trước Tôn sau, nên bị lỗi "Đảo ly".

Lưu ý: Về Đồng dụ, khi kết thúc, phải nói Nhơn trước rồi nói Tôn sau. Nếu trái lại thì bị lỗi "Đảo hiệp". Về Dị dụ, khi kết thúc, phải nói Tôn trước rồi nói Nhơn sau. Nếu trái lại thì bị lỗi "Đảo ly". 10 lỗi về Tợ Dụ đã giải thích rồi.

Phụ bài học ôn

Quý vị nên xét kỹ các lượng sau này: Tôn thuộc về lỗi gì? Nhơn thuộc về lỗi gì? Và Dụ thuộc về lỗi gì?

Lượng thứ I

TônNgười ta phải chết.
NhơnVì có sanh vậy.
Đồng dụPhàm có chết phải có sanh, như chim.
Dị dụPhàm không sanh thì không chết, như hư không.

Lượng thứ II

TônTiếng nói thường còn.
NhơnVì vô hình vậy.
Đồng dụNhư hư không.
Dị dụNhư vi trần.

Lượng thứ III

TônTiếng nói thường còn.
Đồng dụNhư hư không.
Dị dụNhư điện chớp.

Lượng thứ IV

TônNgười ta phải chết.
NhơnVì có sanh vậy.
Đồng dụNhư cỏ cây.
Dị dụNhư loài vật. Hoặc lập nhiều lượng khác.

Lợi ích học Nhơn Minh Luận

Trong các Kinh điển Đại thừa, phần nhiều Phật dạy các đệ tử phải biết Ngũ minh (1. Nội minh, 2. Nhơn minh, v.v...) thời việc hóa đạo mới được nhiều lợi ích. Trong Ngũ minh, Nhơn minh là một.

Nhờ biết Nhơn minh nên lời nói ít lỗi, luận lý vững vàng, có thể thuyết phục được các tà thuyết đem về chánh đạo.

Nhờ biết Nhơn minh, mới học nổi được các bộ luận trong Phật giáo. Vì trong các bộ luận ấy phần nhiều dùng Nhơn minh để lập Chánh lý và phá các tà thuyết.

Tóm lại, Nhơn minh là một môn Luận lý học, vừa lợi ích cho mình và lợi ích cho người.

Sa môn THÍCH THIỆN HOA
Sửa lại và viết xong mùa thu năm Mậu Tuất (1958)
Chùa PHẬT QUANG (Trà Ôn)