Bài học 29 / 70

B. Nhơn

Bài viết 52 min Cập nhật: 15 thg 7, 2026
🧭
Khám phá nhiều cách học!

Mỗi tab bên dưới là một cách tiếp cận bài học khác nhau — hãy thử nhiều cách để ghi nhớ sâu hơn.

Nội dung Bản đọc được trích dẫn nguyên văn từ sách. Các nội dung Video, Audio, Slideảnh minh họa được tạo bằng AI để hỗ trợ việc học.

Infographic - Đạo Phật

Khóa thứ 9: Luận Đại Thừa Trăm Pháp, Duy Thức và Nhơn Minh Luận

NHƠN MINH LUẬN

B. NHƠN

Nhơn là nguyên nhơn hay lý do. Phàm một sự vật hay câu nói gì, cũng đều có nguyên nhơn hay lý do cả. Như nói:

Tôn: Tôi muốn ăn cơm.

Nhơn: Vì tôi đói bụng vậy (lý do).

Phàm cái "Nhơn" nào đủ cả ba tánh chất sau đây mới đúng đắn. Trái lại, nếu thiếu một, thiếu hai, hoặc thiếu ba, thì cái Nhơn ấy có lỗi. 14 lỗi về Nhơn sau này cũng bởi thiếu một, hai hoặc ba tánh chất sau đây. Vậy quý vị nên nhớ kỹ ba tánh chất của Nhơn.

Ba tánh chất của Nhơn

1. Biến thị Tôn pháp tánh

Nghĩa là: Cái Nhơn phải bao trùm cả Tôn (tánh chất thứ nhất).

Biểu lập

TônTôi muốn ăn cơm.
NhơnVì tôi đói bụng vậy.
Nhơn trùm cả Tôn

Nghĩa là: Vì tôi đói bụng, nên "tôi muốn"; và vì tôi đói bụng, nên "tôi ăn cơm".

Cái Nhơn "Vì tôi đói bụng" này, nó trùm được danh từ trước của Tôn là "Tôi muốn"; và cũng trùm được danh từ sau của Tôn là "Ăn cơm".

2. Đồng phẩm định hữu tánh

Nghĩa là cái Nhơn quyết định phải hoàn toàn hoặc ít nhất là phải có một phần liên quan với Đồng dụ. Nó phải là đồng một tánh chất như Đồng dụ (tánh chất thứ hai của Nhơn).

Biểu lập

TônTôi muốn ăn cơm.
NhơnVì đói bụng vậy.
Đồng dụNhư anh A (đói bụng và muốn ăn cơm).
Nhơn trùm cả Tôn và liên quan với Đồng dụ

Cái Nhơn "vì đói bụng" này hoàn toàn liên quan với Tôn và Đồng dụ (thí dụ thuận).

"Như anh A" là đồng dụ. Nghĩa là anh A cũng "vì đói bụng" (Nhơn) nên "muốn ăn cơm" (Tôn).

3. Dị phẩm biến vô tánh

Cái "Nhơn" này đối với Dị dụ (thí dụ về bề trái) phải hoàn toàn không liên quan; nghĩa là tánh chất của Nhơn phải hoàn toàn không có trong Dị dụ mới được (tánh chất thứ ba của Nhơn).

Biểu lập

TônTôi muốn ăn cơm.
NhơnVì đói bụng vậy.
Đồng dụNhư anh A (đói bụng, muốn ăn).
Dị dụNhư anh B (no bụng, không muốn ăn).
Nhơn này trùm cả Tôn và Đồng dụ, còn Dị dụ thì không liên quan đến Tôn và Nhơn

Cái Nhơn "vì đói bụng" này, đối với Dị dụ hoàn toàn không có liên quan; nghĩa là: anh B (Dị dụ) đã no bụng (trái với Nhơn: đói bụng), nên không muốn ăn (trái với Tôn: muốn ăn).

14 lỗi về Nhơn

Phàm lập cái "Nhơn", phải tránh 14 lỗi sau này thì cái "Nhơn" ấy mới hoàn toàn đúng đắn, chia làm 3 loại:

I. Bốn lỗi bất thành

1. Lưỡng câu bất thành

Lập cái Nhơn mà cả chủ và khách đều không nhìn nhận.

Tôn: Con rắn Hổ mây chạy mau.

Nhơn: Vì nó có chân vậy (nguyên nhơn).

Cả chủ và khách đều không nhìn nhận "rắn hổ có chân". Nay lại lập cái Nhơn "vì có chân", nên cái Nhơn này chẳng thành.

2. Tùy nhất bất thành

Phàm lập cái Nhơn, phải chủ và khách hai bên đều công nhận, ít nhất là một bên khách phải có công nhận thì cái Nhơn ấy mới thành. Nay cái Nhơn này bên khách không công nhận nên bị lỗi "Tùy nhất bất thành". Như đối với nhà Khoa học mà lập như vầy:

Tôn: Vò vò không sanh con (trứng).

Nhơn: Vì nó bắt sâu làm con vậy.

Theo Khoa học nói con Vò vò đẻ trứng trong tổ, rồi bắt sâu nhét vào làm mồi, để cho con nó khi nở ra có mồi ăn. Nay lập cái Nhơn "bắt sâu làm con" thì bên khách (Khoa học) không công nhận, nên bị lỗi.

3. Dự dự bất thành (Do dự bất thành)

Cái Nhơn dự dự chẳng nhất định, nên không thành. Như ở xa thấy mù mù, không rõ đó là sương mù hay khói mù, lại lập như vầy:

Tôn: Chỗ kia có lửa.

Nhơn: Vì có mù (mây mù).

Bởi cái Nhơn này có thể lập được cả hai Tôn, vừa "có lửa" và vừa "không có lửa", dự dự không nhất định, nên bị lỗi "bất thành".

4. Sở y bất thành

Chỗ y cứ của mình, bên khách không công nhận. Như tín đồ Nhất thần giáo đối với khoa học hoặc Phật giáo mà lập như vầy:

Tôn: Thần sanh ra mọi vật.

Nhơn: Vì trong kinh của Đạo tôi nói vậy.

Phải là tín đồ của Tôn giáo họ mới nhìn nhận kinh của Đạo họ là đúng. Còn đối với khoa học hay Phật giáo, không nhìn nhận kinh sách của họ, mà y cứ nơi kinh sách đó để lập luận với người ngoài Đạo mình, nên bị lỗi "sở y bất thành".

Một tỷ dụ thứ hai: Theo trong Nhơn minh có lập cái lượng như vầy:

Tôn: Hư không thật có.

Nhơn: Vì muôn vật đều y hư không vậy.

Phái "Vô không luận", họ chẳng công nhận "thật có hư không". Nếu với phái này mà lập cái Nhơn như vậy thì bị lỗi "sở y bất thành".

Bốn lỗi "bất thành" đã nói rồi, bây giờ sẽ nói đến sáu lỗi "bất định"...

II. Sáu lỗi bất định

1. Cộng bất định (Cọng bất định)

Cái Nhơn này liên quan cả Đồng dụ và Dị dụ, nên bị lỗi "không nhất định".

Biểu lập

TônAnh A đau.
NhơnVì ăn xoài sống.
Đồng dụNhư anh B (ăn xoài sống và đau).
Dị dụNhư anh D (ăn xoài sống, không đau).

Nếu nói anh A "vì ăn xoài sống" mà đau như anh B, thì tại sao anh D cũng "ăn xoài sống" mà lại không đau?

Bởi thế nên người ta có thể lập cái Tôn ngược lại rằng:

TônAnh D không đau.
NhơnVì ăn xoài sống.
Đồng dụNhư anh D (ăn xoài sống và không đau).
Dị dụNhư anh A (ăn xoài sống, đau).

Người ta có thể hỏi rằng: Vậy thì "vì ăn xoài sống" mà bị đau như anh A, hay "vì ăn xoài sống" mà không đau như anh D? Bởi lập cái Nhơn bất định như vậy nên có lỗi.

2. Bất cộng bất định (Bất cọng bất định)

Cái Nhơn này không có liên quan với Đồng dụ.

Biểu lập

TônTiếng là thường còn.
NhơnVì tai nghe vậy.
Đồng dụNhư hư không (tai không nghe).
Dị dụNhư cỏ cây (tai không nghe).

Cái Nhơn "vì tai nghe" này, đối với "Đồng dụ" và Dị dụ đều không có liên quan chút nào cả, nên cũng bị lỗi "bất định".

Bởi cái Nhơn này người ta có thể lập ngược lại như vầy:

TônTiếng là vô thường.
NhơnVì tai nghe vậy.
Đồng dụNhư cỏ cây (vô thường).
Dị dụNhư hư không (thường còn).

Vậy, "vì tai nghe" mà tiếng nói thường còn như hư không? Hay "vì tai nghe" mà tiếng nói vô thường như cỏ cây? Bởi thế nên cái Nhơn này bị lỗi "bất định".

3. Đồng phẩm nhất phần chuyển, Dị phẩm biến chuyển bất định

Biểu lập

TônChỗ kia có khói.
NhơnVì có lửa vậy.
Đồng dụNhư lửa rượu cồn (alcool) (có lửa, không khói).
Như lửa ở nhà bếp (có lửa, có khói).
Dị dụNhư ao nước (không khói, không lửa).

Nếu cái Nhơn "vì có lửa", dụ như lửa ở nhà bếp, thì Tôn này có "khói"; còn "vì có lửa", dụ như lửa rượu, thì cái Tôn này "không khói".

Vì cái Nhơn này đối với Tôn "có khói" hay "không khói" đều không nhất định, nên cái Nhơn này có lỗi bất định. Bởi người ta có thể lập ngược lại như vầy:

TônChỗ kia không khói.
NhơnVì có lửa vậy.
Đồng dụNhư lửa Alcool (có lửa, không khói).
Dị dụNhư lửa ở nhà bếp (có lửa, có khói).

4. Dị phẩm nhất phần chuyển, Đồng phẩm biến chuyển bất định

Cái Nhơn này đối với Dị dụ có dính líu một phần, còn đối với Đồng dụ thì phải hoàn toàn dính líu, nên cái Nhơn này cũng bị lỗi "bất định".

Biểu lập

TônCon khỉ leo cây giỏi.
NhơnVì có hai tay.
Đồng dụNhư con vượn (có hai tay, leo cây giỏi).
Dị dụNhư con bò (không tay, không biết leo).
Như con rắn (không tay, leo cây giỏi).

Phàm Đồng dụ thì phải hoàn toàn liên quan cả Tôn và Nhơn; còn Dị dụ thì hoàn toàn không dính líu gì đến Tôn và Nhơn, như thế mới đúng.

Nay cái Nhơn này đối với Dị dụ bị dính líu hết một phần. Bởi thế cái tánh chất thứ ba của Nhơn là "Dị phẩm biến vô tánh" bị lỗi; vì khách có thể hỏi lại rằng: "Vì không tay, nên leo cây giỏi như con rắn? Hay vì không tay, nên chẳng biết leo cây như con bò?". Bởi thế nên cái Nhơn này bị lỗi "bất định".

5. Câu phẩm nhất phần chuyển bất định

Cái Nhơn này đối với Đồng dụ và Dị dụ đều chỉ có dính líu một phần, nên cũng bị lỗi "bất định".

Biểu lập thí dụ thứ nhất

TônTiếng vô thường.
NhơnVì mắt không thấy.
Đồng dụNhư tánh giận, buồn v.v... (mắt không thấy và vô thường).
Như ruộng, nhà v.v... (mắt thấy và cũng vô thường).
Dị dụNhư Hư không (thường, mắt không thấy).
Như Giác tánh (thường, mắt không thấy).

Biểu lập thí dụ thứ hai

TônNgười ta ai cũng phải chết.
NhơnVì là vật hữu hình vậy.
Đồng dụNhư cầm thú (hữu hình, có chết).
Như nước biển (hữu hình, không chết - theo quan niệm cổ).
Dị dụNhư hư không (vô hình, không chết).
Như tượng gỗ (hữu hình, không chết).

Nếu cái Nhơn "vì hữu hình" này mà dụ như cầm thú, thì cái Tôn này "có chết", còn cái Nhơn "vì hữu hình" mà thí dụ như nước, thì cái Tôn này "không chết".

Phàm Dị dụ là dụ bề trái của Tôn và Nhơn, nên phải dùng những vật "không chết" (trái với Tôn) và "vô hình" (trái với Nhơn) để làm thí dụ. Nay cái Dị dụ này chỉ trái với Nhơn được phân nửa. Vì ngoại nhơn có thể hỏi lại rằng: Vậy "hư không không chết vì vô hình vậy? Hay tượng gỗ không chết vì hữu hình vậy?". Bởi hữu hình (tượng gỗ) và vô hình (hư không) đều không chết, nên cái Nhơn này bị lỗi "bất định".

6. Tương vi quyết định bất định

Chủ và khách lập lượng trái nhau; song cả hai đều không có lỗi, và đều quyết định thành lập được. Nhưng không bên nào phá được bên nào.

Khách lập

TônSóng thường còn.
NhơnVì sóng tức là nước.
Đồng dụNhư điện (hoặc đất).

Chủ phá

TônSóng là vô thường.
NhơnVì chuyển động được.
Đồng dụNhư gió.

Hai cái lượng này rất mâu thuẫn nhau, song đều quyết định thành lập được. Bên khách vẫn công nhận "sóng có chuyển động", bên chủ cũng nhận "sóng tức là nước". Nhưng không bên nào phá được bên nào, nên Nhơn này bị lỗi "bất định". Đây cũng là vì thiếu lời lẽ khôn khéo để làm cho người ta phục mình. Thuở xưa có người nói: "Ai lập trước thì hơn".

Phải lập như vầy:

TônSóng không thường còn.
NhơnVì nó là nước bị gió động.
Đồng dụCũng như gió.

Sáu lỗi "Bất định" đã giải thích rồi, bây giờ sẽ nói đến bốn lỗi tương vi...

III. Bốn lỗi tương vi

1. Pháp tự tướng tương vi

Cái Nhơn trái (mâu thuẫn) với tự tướng (lời nói trắng) của danh từ sau.

TônGió thường còn.
NhơnVì có động vậy.
Đồng dụNhư hư không.
Dị dụNhư sóng.

Đã có động thì làm sao lại thường còn; nên cái Nhơn "có động" này, rất trái với tiếng "thường còn" là lời nói trắng về danh từ sau của Tôn.

2. Pháp sai biệt tương vi Nhơn

Cái Nhơn trái (mâu thuẫn) với ý hứa (ẩn ý) của danh từ sau.

TônLoài người quyết định có tạo ra (ý hứa là một vị thần).
NhơnVì có trí khôn và mắt, tai v.v...
Đồng dụNhư con do cha mẹ sanh ra.

Trong cái Tôn này, về chữ "quyết định có người tạo ra" là do người lập Tôn, ẩn ý của họ muốn nói: Người tạo ấy là một vị Thần. Và ẩn ý của họ cho vị Thần ấy có ba đức tánh sau này: 1. Toàn trí toàn năng, 2. Thường còn, 3. Độc tôn.

Nhưng cái Nhơn này nó lại trái ngược (mâu thuẫn) với ẩn ý của họ:

Nếu vị thần ấy tạo ra loài người có trí khôn và mắt tai v.v... như cha mẹ sanh con; vậy cha mẹ "không toàn trí toàn năng", vì sanh ra có những đứa con ngỗ nghịch với cha mẹ, thì vị thần ấy cũng "không toàn trí toàn năng" vì tạo ra loài người mà có những kẻ oán trách lại vị Thần ấy, và giữa loài người, không biết bao nhiêu những điều bất bình đẳng.

Cha mẹ sanh ra con, đến khi già phải chết "không phải thường còn"; vậy vị Thần ấy đã sanh ra loài người, thì vị thần ấy cũng phải chết, "không thường còn".

Cha mẹ sanh ra con, tất nhiên phải có ông, bà sanh lại cha mẹ, nên cha mẹ không phải "độc tôn". Vậy thì vị Thần ấy đã tạo ra loài người, thì vị thần ấy cũng phải có một vị thần lớn hơn sanh ra, nên vị thần ấy cũng không "độc tôn".

Bởi thế nên cái Nhơn này bị lỗi mâu thuẫn với ý hứa (ẩn ý) của danh từ sau là "người tạo ra".

3. Hữu pháp tự tướng tương vi Nhơn

Cái Nhơn mâu thuẫn với lời nói trắng (tự tướng) về danh từ trước của Tôn.

TônPhải có một ông Vô hình, tạo ra Vũ trụ.
NhơnVì Vũ trụ có trật tự ấy.
Đồng dụNhư ông Kiến trúc sư làm nhà.

Cái Nhơn "Vì vũ trụ có trật tự" này, rất trái ngược với danh từ trước của Tôn là "Ông Vô hình". Đã Vô hình thì làm sao tạo ra Vũ trụ là vật hữu hình và có trật tự được? Phải vật hữu hình mới tạo ra vật hữu hình. Như ông kiến trúc sư, vì hữu hình mới tạo ra cái nhà hữu hình được.

4. Hữu pháp sai biệt tương vi Nhơn

Cái Nhơn trái ngược với ý hứa (ẩn ý) về danh từ trước của Tôn.

TônPhải có một đấng sanh ra vũ trụ.
NhơnVì vũ trụ có thứ tự vậy.
Đồng dụNhư ông thợ làm nhà.

Người lập lượng này, nếu nói trắng ra "Có một ông thần", thì sợ bên đối phương không công nhận, mà phải bị lỗi "Sở biệt bất thành", nên họ chỉ nói một cách hỗn hàm là "Có một Đấng". Song ẩn ý của họ muốn nói "Đấng ấy là một vị thần"; và họ cho vị Thần này có 3 đức tánh: 1. Thường còn, 2. Cao cả, 3. Sanh vạn vật.

Nhưng Đấng ấy đã sanh ra được vạn vật, thì Đấng ấy tất nhiên cũng phải bị người khác lớn hơn sanh ra và chết; không phải cao cả và thường còn. Cũng như ông thợ làm nhà. Vì cái Nhơn này, trái ngược với ẩn ý của danh từ trước, nên bị lỗi "tương vi".

Ngoại nhơn có thể lập lượng bác lại rằng:

TônĐấng ấy phải bị người khác sanh ra và phải chết.
NhơnVì Đấng ấy sanh ra vũ trụ vậy.
Đồng dụNhư ông thợ làm nhà.

14 lỗi về Tự Nhơn, chúng tôi đã giải thích rồi, sau đây sẽ nói 10 lỗi về Tợ dụ.

Phụ bài ôn học (ôn lại 14 lỗi về Tợ Nhơn)

Quý vị nên xét kỹ các lượng sau này, rồi chỉ ra: lỗi của Tôn, lỗi của Nhơn, và nói rõ tại sao.

Lượng thứ I

TônNhơn loại quyết định có người tạo.
NhơnVì có trí khôn và đủ cả mắt, tai v.v...
Đồng dụNhư con, phải có cha mẹ sanh ra.

Lượng thứ II

TônGió thường còn.
NhơnVì có động vậy.
Đồng dụNhư hư không.
Dị dụNhư sóng.

Lượng thứ III

TônPhải có một Đấng sanh ra vũ trụ.
NhơnVì vũ trụ có trật tự vậy.
Đồng dụNhư ông Kiến trúc sư làm nhà.

Lượng thứ IV

TônPhải có một ông vô hình tạo ra vũ trụ.
NhơnVì vũ trụ có trật tự vậy.
Đồng dụNhư ông thợ làm nhà.